Quan sát. Lắng nghe. Ghi nhận. Chia sẻ

Khinh Trí Thức 2.0

Vừa rồi, do một người bạn chuyển đến qua email, tôi có cơ hội đọc được bài nhận định của nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc với tựa đề: Khinh Trí Thức1.

Ngay từ nhận xét đầu tiên trong bài, phải nói rằng tôi hoàn toàn đồng ý với những điều nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc viết:

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Về điều trích dẫn từ nhà văn Nguyễn Thành Long được ghi phía dưới, thì dù đã đọc qua rồi, cũng là điều vẫn cần nên phải được lập lại:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854 [sic], Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Và một đoạn khác trích từ phát biểu của nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh:

Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc cũng ghi lại rõ rệt thái độ xấc xược của ông Đinh Đức Thiện đối với giới trí thức qua lời kể của nhà văn Vũ Thư Hiên:

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Tưởng cũng nên nhắc lại, ông Đinh Đức Thiện là em ruột của ông Lê Đức Thọ, người đã từng nắm giữ một chức vụ đầy quyền uy: Trưởng ban Tổ chức Trung ương, phụ trách nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1956 đến 1982, và còn là người cầm đầu phái đoàn của Bắc Việt tham dự Hòa Đàm Paris 1973.

Dù đồng ý với nhận xét của tác giả Nguyễn Hưng Quốc và quý vị được trích dẫn trong bài Khinh Trí Thức, nhưng sau khi đọc xong, tôi có vài suy nghĩ và ý kiến.

Vì không chuyên nghiên cứu về văn nghệ sĩ hoặc trí thức tại Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa nói chung, hay tại Bắc Hà nói riêng, cho nên những suy nghĩ và ý kiến của tôi đặt căn cứ nhiều trên những gì đã đọc được trong bài Khinh Trí Thức.

Trí Thức và Tư Cách

Như ghi bên trên, những nhận xét trong bài Khinh Trí Thức rất chính xác. Và phải nói rằng những sự việc này đã được tường trình từ lâu, và khá quen thuộc với người đọc có quan tâm.

Tuy vậy, khi những nhận xét trong bài xem ra chỉ chú trọng nhiều đến “giới lãnh đạo Việt Nam” thì nhìn chung, tôi nghĩ, bài viết đã bị hụt hẫng.

Tương tự như một phương trình toán có hai vế mà khi đưa ra chỉ thấy có một.

Cái vế bị thiếu này chính là những nhận xét hay trình bày về tư cách của đa số trong giới văn nghệ sĩ, trí thức mà bài viết đã bàn đến.

Nói một cách khác, những nhà chuyên khảo cứu, phê bình cũng phải nên cho người đọc biết đến những “thông tin” cùng là nhận xét trung thực của họ về việc:

  • Những vị văn nghệ sĩ, trí thức này có sống và hành xử đúng đắn như những người ưu tú xứng đáng với sự tôn trọng mà xã hội dành cho họ? 
  • Hay họ đã thường trực sống và hành xử một cách tệ hại so với những kỳ vọng mà xã hội đã đặt vào những thành phần ưu tú, trí thức?
  • Cũng như, dù biết là bị lãnh đạo khinh bỉ, tại sao họ vẫn tiếp tục “sống” trong sự bảo bọc của đảng, của lãnh đạo?  

Đúng, những câu hỏi trên là những gì rất khó nghe đối với người bình thường.

Nhưng, những câu hỏi trên sẽ không thể là những điều “khó nghe” đối với người trí thức. Bởi vì quý vị thuộc thành phần trí thức này đã sở hữu những giá trị tinh thần rất đặc biệt.

Trong đó, Sự Can Đảm Trí Thức phải được xếp hàng đầu nơi những giá trị đó.

Chính sự can đảm trí thức này đã đem đến cho thành phần ưu tú đó một khả năng đối diện với sự thực, dù có khi rất “nhức nhối,” để tìm ra cách giải quyết thỏa đáng.

Nhất là quý vị trí thức đó có thường xuyên nghiêm chỉnh tự chất vấn lương tri và đặt ra những câu hỏi như thế cho chính họ hay không?

Còn giới phê bình văn học? Chưa nói gì đến việc phê bình, mà chỉ giới hạn trong vai trò quan sát và nhận xét, liệu quý vị này có “thấy” ra được và “dám” đặt vấn đề với thành phần trí thức bằng những câu hỏi “khó nghe” như bên trên không?

Tại Việt Nam trong thời gian vài năm gần đây, đã có những dấu hiệu rất đáng “phấn khởi” trước việc có một số quý vị nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các vị khoa bảng, và cả giới quân đội, lên tiếng chỉ trích lãnh đạo hoặc nộp đơn từ bỏ đảng.

Tuy vậy, con số quý vị đã lên tiếng đó vẫn còn quá khiêm nhường so với “đại bộ phận” trí thức trong nước.

Ngoài ra, khi tìm hiểu thêm, quả là một sự bất ngờ khi thấy có tên những vị thuộc hàng “đại cổ thụ” trong lãnh vực sinh hoạt của họ.

Thực vậy, khó có thể không sững người khi nhận ra có vị phải cần đến 62 năm2 tuổi đảng mới “tỉnh” ra, nhận chân được sự thực và “tìm” được dũng khí để nói lên lời “tạ từ” với đảng.

Sự sững người bắt đầu từ kinh ngạc rồi sau đó sang đến ngậm ngùi, đáng tiếc đã làm nẩy sinh ra một số câu hỏi:

  • Cái lý tưởng, cái trí thức của đa số những vị này đã bị lạc đi đâu mất trên con đường đời ưu tú của họ trong suốt một khoảng thời gian quá lâu như vậy?
  • Hay lý tưởng, trí thức đó đã bị thui chột trước đặc quyền, đặc lợi mà lãnh đạo dành cho một “trí thức” con cưng (hay nặng nề hơn: tay sai) của chế độ?
  • Hay họ đã chọn sự im lặng để bảo vệ cái định chế “trí thức” đầy “sĩ khí,” để gìn giữ cái huyền thoại “văn nghệ sĩ” đầy “khí phách,” và để cho cái “tôi” ưu việt của tầng lớp “ưu tú (elite)” vẫn được ung dung cao ngạo?

Nếu phần trả lời cho các câu hỏi bên trên chỉ nói lên được một thực trạng ươn hèn, tồi tệ của thành phần ưu tú, trí thức, thì than trách làm sao được khi “trí thức” bị những giới chức quyền ra mặt miệt thị, khinh bỉ?

Bởi đó, thay vì chỉ chú trọng vào vấn đề phê bình “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc trí thức” (tương tự như phát biểu của nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh tại buổi họp giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, và khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10, 1987), thì hành động đúng đắn nhất của giới trí thức phải là tập trung can đảm để giải quyết vấn đề: “Trí thức phải làm gì, và phải sống như thế nào để không bị lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc?”

Ngày nào mà giới trí thức này vẫn không đủ can đảm để mạnh dạn, thẳng thắn “nhìn vào” lương tri và “đối diện” với “con người trí thức” của chính họ, thì ngày đó những quý vị này vẫn chỉ như là những “Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh”3 tiếp tục úp mặt ngủ vùi trong cái “lồng son trí thức” do “lãnh đạo” bủn xỉn thí cho.

Hiển nhiên khi đó “trí” của họ chẳng thể “thức” để lo tắm gội “lột xác.” Rồi cuối cùng thì toàn bộ giới “trí thức” này lại chỉ có thể vẫn là những thứ cặn bã, ô uế mà họ Mao đã chỉ mặt, đặt tên.

Người Việt có câu: Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.

Thực tế là có không ít các “trí thức” không quan tâm đến ý nghĩa thực sự của câu nói trên qua sự việc họ chỉ biết nặng phần “trách nhân” mà nhẹ phần “trách kỷ.”

Rất có thể những vị đó không đặt nặng vào phần “trách kỷ” vì ngại rằng như thế sẽ “vạch áo cho người xem lưng.” Và những “bạch hoá” như vậy sẽ làm mất đi “giá trị” của giới tinh hoa, trí thức ưu tú mà chính họ cũng là một thành viên.

Một khi giới trí thức không tự đem lại được cho họ giá trị và phẩm cách cao đẹp, thì vòng quay “biện chứng” giữa “Lãnh đạo khinh bỉ Trí thức”“Trí thức phê bình Lãnh đạo” đơn giản sẽ chỉ là một chu trình tuần hoàn của việc “tái chế” (recycle) để hai thành phần này đóng đúng vai trò “kẻ tung, người hứng” – hữu hiệu phục vụ cho nhu cầu của từng thời kỳ “thắt chặt” hay “cởi mở” do lãnh đạo quyết định.

Nếu giới trí thức cứ vẫn cam chịu chấp nhận làm một thứ vệ tinh “ăn theo” quay quanh quỹ đạo của đảng, thì lãnh đạo chính là “nguồn sáng soi đường” cho trí thức.

Và sự hiện diện của một tầng lớp trí thức như thế sẽ chỉ có thể là một thứ “trang sức đại trà” lòe loẹt và rẻ tiền dùng để phục vụ cho việc đánh bóng giới lãnh đạo.

Như thế đó, đối với người Mỹ: “They deserve each other.” (Chúng xứng với nhau.)

Còn người Việt bình dân thì thường cho là: “Chúng thật xứng đôi, vừa lứa.”

Những Kẻ Sĩ Tiêu Biểu

Thực ra, trong giới văn nghệ sĩ cũng còn có những con người đúng thật là kẻ sĩ chân chính. Như nhà thơ Hữu Loan và Vũ Hoàng Chương.

Có thể nói chắc mà không sợ bị lầm là: Hai vị Hữu Loan, Vũ Hoàng Chương đều sợ chết, sợ bị đầy đọa như mọi người khác. Nhưng đối với hai vị này, những thứ sợ đó chắc chắn không đáng sợ bằng việc tự bán rẻ tư cách làm người của họ.

Lẽ hiển nhiên là đối với chế độ độc tài, như cộng sản, thì người trí thức hay kẻ sĩ chân chính sẽ không bao giờ được chế độ trân quý.

Nhưng, nếu đa số các vị trí thức sống và hành xử được như Hữu Loan hay Vũ Hoàng Chương thì, ít ra, họ cũng ít bị các giới chức quyền đó nặng lời khinh miệt.

Người Thơ Bận Việc Làm Người4

Xin được mạn phép trích lại một phần nói về nhà thơ Hữu Loan của nhà thơ Nguyễn Duy:

Ông là nhà thơ đàn anh, người đồng hương xứ Thanh của tôi, nơi nổi tiếng “địa linh, nhân kiệt”. Ông cũng thuộc lọai “nhân kiệt”, không chỉ là “hào kiệt” mà còn là “cùng kiệt”, một thường dân kiệt quệ theo nghĩa đen.

Hồi còn ở quê, Đò Lèn, huyện Hà Trung, giáp với huyện Nga Sơn quê ông, tôi chỉ biết ông qua lời đồn và giai thọai. Cha tôi từng đẩy xe thồ suốt những năm 60 thế kỉ trước, từng quen biết với ông Tú Loan, tức nhà thơ Hữu Loan một thời. Có lần cha tôi hỏi, mày đi học có biết thơ của ông xe thồ này không? Tôi nói không, (nhà trường hồi đó không dạy thơ Hữu Loan). Cha tôi nói ông Tú Loan hay chữ lắm, đỗ tú tài Tây, làm quan cách mạng thời khởi nghĩa bốn lăm, thời kháng chiến chống Pháp, làm thơ nổi tiếng, nhưng rồi chỉ vì cái tính ngang tàng, ngang bướng mà bỏ về làm dân đen, cũng bị bắt chẹt, bị nghèo đói xơ xác, đi thồ đá, thồ dưa, thồ chiếu, đủ thứ…Cha tôi cũng là dân nhà giàu phá sản sau thời kì “cải tạo kinh tế” nên rất thông cảm với ông Tú Loan và tỏ vẻ kính nể ông xe thồ này lắm…Cho đến đầu thập niên 70, sau mấy năm làm lính, khi theo học khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi mới được đọc thơ Hữu Loan. Rồi gần hai mươi năm sau tôi  mới được gặp ông…

Tôi gọi cho mấy người bạn văn nghệ, những người sùng bái thơ Hữu Loan. Chúng tôi quyết định đãi ông một bữa trưa sao cho ông thích thú. Hồi đó, ở công trường Mê Linh, trước tượng đức Thánh Trần, có một nhà hàng đặc sản, chuyên các món rùa và rắn.

Hỏi, ông có sợ món rắn hổ mang bành không, rắn độc đấy.

Ông nói rắn đâu có độc bằng người, người độc “tau” chả sợ, sợ chi rắn độc.

Thế là, nhà hàng cho biểu diễn màn múa vờn rắn độc, một con rắn hổ cỡ hai kí, ngóc cổ, bành mang, phun khe khè… Sau đó, rượu huyết rắn, mật rắn, quả tim rắn đập thoi thóp trong cái li nhỏ dành cho ông nuốt sống, và các món khác mà ông gọi chung là một bữa tiệc “hùng vĩ”.

Tiếp đến tiệc trà. Chúng tôi ngẩn ngơ nghe ông đọc thơ vanh vách, giọng sang sảng. Một bữa tiệc thơ “dữ dội”, những Đèo cả, Màu tím hoa sim, Hoa lúa, Những làng đi qua … Bài Vè Thanh Hóa “Khu bốn đẩy ra/ khu ba đẩy vào/ muốn chạy sang Lào/ thì Lào không nhận…” là do ông truyền cho tôi bữa đó. 

Rồi Hữu Loan kể vắn tắt về những năm tháng ông sống, cả trong kháng chiến, sau hòa bình, và nhất là thời gian cực kì gian nan, lận đận ở chính quê nhà, sau khi ông bỏ Hà Nội về làng.

Một cuộc đời thật ngang tàng, ngang trái mà cũng thật hiên ngang.

Một cuộc đời tất tả, bận rộn.

Chúng tôi hỏi, ông bận việc gì nhất?

Ông thản nhiên: “Bận việc làm người”… 

Tp. HCM, 19.3.2010 – Nguyễn Duy

*******

Vũ Hoàng Chương: Con Người Dại Hay Con Người Can Đảm5

Xin trích lại phần nói về nhà thơ Vũ Hoàng Chương của Sông Lô tại buổi “họp văn nghệ” sau 30/4/75 tại Sài Gòn. Trước các văn nghệ sĩ “đại thụ” Bắc Hà, có cả đại quan “thái thú văn nghệ” Tố Hữu, nhà thơ họ Vũ đã thản nhiên “bình thơ” Tố Hữu:

Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương do người có bổn phận điếu đóm đêm hôm ấy thuật lại.

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên. Đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh Nghị thật xác đáng, tôi chịu.

Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt. Tức chưa phải là hay. Thơ hay vừa phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực.

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ VN, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ VN yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca, nhưng trước hết phải biết bà mẹ VN đó có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin

Chắc chắn là không có một bà mẹ VN nào, kể cả bà Tố Hữu mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu ta đang mổ xẻ.

Một tình tự không chân thực, dù được luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay mà chỉ là thơ khéo làm, đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thơ thợ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi cho một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Những bà mẹ VN trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm“.

Rồi ông kết luận, hai câu lục bát của Tố Hữu, theo ý mình, chỉ là những lời thơ khéo, không thể so sánh với những câu thơ của những nhà thơ vừa nêu ở trên, bản chất khác hẳn.

Lời thẩm định trên của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi, sôi nổi vì bất bình nhiều hơn là vì tranh luận. Một vài cử tọa muốn đẩy họ Vũ đến chỗ bí, để hóa giải thẩm định ngược dòng của ông. Họ đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được. Nhưng Vũ Hoàng Chương cứ vẫn ôn tồn “giải trình” tiếp:

Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại tình tự hư hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng, nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy. Tôi xin nhắc: Sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời. Sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.

Hình như những ngày sau “cái đêm hôm ấy” Vũ Hoàng Chương đã bị bắt đi học tập và chết vào ngày 06 tháng 9 năm 1976 khi được tha về không bao lâu, có người nói Vũ Hoàng Chương là người dại, nhưng cũng có người nói Vũ Hoàng chương là người can đảm.

Theo tôi, ở vị trí kẻ sĩ, ông là một con người tự do, con người tự do của kẻ sĩ không phải quỳ lụy trước bất cứ một áp lực nào, con người tự do của kẻ sĩ tự nó đã có tính tự trọng cao và là con người can đảm.

Như Phùng Quán nói:

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không bảo yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không bảo ghét thành yêu

Những người nói ông dại, không biết phía sau chữ dại ấy có ẩn chứa gì không? Nhưng sao thấy nó bất ổn quá chừng, nó chỉ biện minh được một điều duy nhất, đó là tính yếu kém của con người, nói rõ hơn, nó như dấu diếm một cái gì vừa bí hiểm vừa hèn hạ. Hơn nữa, nếu ai đó nói cách xử sự của thi sĩ họ Vũ trong hoàn cảnh như vậy là dại, cũng có thể với hàm ý là, giữ sự im lặng trong hoàn cảnh như vậy là hành động của kẻ trí? và nếu vậy thì sẽ không có bài viết này.  …

Sông Lô

*******

Để kết thúc phần ý kiến riêng này, xin mượn ý của một câu Anh ngữ:

      • Respect is earned not given. (Sự tôn trọng không do ban phát mà được hình thành từ công khó của mình.)

Đối với giới trí thức, dù ở Việt Nam hay hải ngoại, thì điều ghi trên cũng vẫn phải được áp dụng. Giới trí thức không phải là một ngoại lệ được đặc biệt miễn trừ.

Muốn được tôn trọng, giới trí thức phải chứng tỏ là họ sở hữu một tài năng và – quan trọng nhất phải là – một tư cách đáng trọng.

Một điều rất hiển nhiên là trước bất kỳ một hành trình nào, điều đầu tiên phải làm là bắt đầu bằng bước đi thứ nhất.

Quyết định từ bỏ môi trường mà Trí thức bị “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc” chính là bước đi thứ nhất trong cuộc hành trình đi tìm một giá trị đúng nghĩa cho họ.

Chắc chắn đây sẽ là một hành trình đầy cam go và khổ ải trong những bước đi kế tiếp trong trường kỳ cho những thành phần trí thức bị lãnh đạo khinh bỉ.

Tuy nhiên, khi hành trình kết thúc, có thể nói rằng Trí thức đã được thăng hoa, và vượt lên trên Lãnh đạo (trước đó vẫn khinh bỉ họ).

Còn như ngược lại, nếu sự chọn lựa của trí thức là “duy trì nguyên trạng,” và chấp nhận sinh hoạt trong môi trường mà họ vẫn bị khinh bỉ, thì đó cũng không phải là điều đáng phải quá ngạc nhiên.

Nhưng, đến lúc đó, Trí thức không thể tiếp tục tự lừa dối mình mà phải có đủ thành thực và can đảm để nhìn nhận rằng đó là sự lựa chọn có ý thức của họ.

Khi đó – không thể đổ lỗi là vì “hoàn cảnh” hay vì “Lãnh đạo” mà – chính Trí thức phải chịu trách nhiệm và “Sống” cùng với những hệ quả của chọn lựa đó của họ.

Trần Trung Tín – Ngày 23 tháng 12, 2021


Mời đọc thêm:

Mời nghe nhạc phẩm Quán Bên Đường:

Giọng nữ:   Rồi em, hỏi anh làm chi? Cầm bút, để viết ngày đêm… Anh viết gì?
Giọng nam:   Đời thối, anh phải nói là thơm. Ngòi bút là chiếc cần câu… Miếng cơm…

Giọng nữ:   Em hỏi: Nghệ thuật là chi? Là đui. Là điếc. Là câm… Mà đi.

Chú Thích:

  1. Bài viết Khinh Trí Thức đăng ngày 25/11/2021 tại:
    https://www.facebook.com/hungquoc.nguyen.771/posts/3201992963410327
    Nếu không vào được Facebook, có thể đọc bài này tại:
    https://www.ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/7167-khinh-tri-th-c-nguy-n-hung-qu-c
  2. Xem:
       2.1  https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_Ng%E1%BB%8Dc
       2.2  https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_H%E1%BA%A3o
  3. Truyện ngắn của Phùng Cung:
        https://vietmessenger.com/books/?title=connguagiacuachuatrinh
    Về tác giả Phùng Cung, xin xem:
        http://thuykhue.free.fr/stt/p/phungcung.html
  4. http://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/HuuLoan/ThuongNhoHuuLoan.htm
  5. https://trieuxuan.info/nhung-bai-viet-ve-thi-hao-vu-hoang-chuong

2 Comments

  1. Phạm Tín An Ninh

    Cám ơn GNCĐ đã cho đọc một bài viết lý thú nhưng cũng khá đau lòng. Có điều không hiểu tại sao đám (lãnh tụ) CS từng công khai khinh miệt “trí thức” nặng nề như thế mà ở Việt Nam ( đặc biệt miền Nam) lại có nhiều nhân vật (được cho là) trí thức lại chạy theo CS để có nhiều người đã phải khốn đốn ân hận cả một đời. Từ LS Nguyễn Mạnh Tường, Nhà Triết học Trần Đức Thảo cho đến sau này như BS Dương Quỳnh Hoa, BS Lê Khắc Quyến và nhiều “bộ mặt” khác nữa.. Và lạ hơn là qua cuộc “Cách Mạng Văn Hóa” tại Trung Cộng và “Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm” tại miền Bắc Việt Nam vẫn chưa làm cho đám trí thức này… “sáng mắt, sáng lòng!”

    Nhiều người cho rằng đám trí thức này thiếu… tri thức.

    Đề cập tới một số đông những nhà văn, nhà thơ miền Bắc, ngoài những nịnh thần thứ thiệt cỡ Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, đau đớn hơn là những Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư từng vang bóng một thời cũng mất hết dũng khí và lương tâm của người cầm bút, không đáng để ngồi cùng chiếu với Phùng Quán, Trần Dần, Hữu Loan.. và thua xa cả thế hệ đi sau như Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo…

    Ông nhà văn Bảo Ninh, với tác phẩm nổi tiếng “Nỗi Buồn Chiến Tranh” cũng đánh mất lương tâm, bẻ cong ngòi bút bôi xấu người lính VNCH. Mới đây được nhà nước CSVN vinh danh cùng với một số tác phẩm văn học sau ngày 30.4.1975, được xếp vào “Những bản hùng ca của đất nước”. Ấy vậy mà ngay sau đó đã bùng lên sự chống đối, cho rằng tác phẩm chưa tuyên truyền đúng mức!

    Xin được đồng tình với tác giả Trần Trung Tín, khi ông nhận định ở phần kết ‘…nếu sự lựa chọn của trí thức là “duy trì nguyên trạng”, và chấp nhận sinh hoạt trong môi trường mà họ từng bị khinh bỉ, thì đó cũng không phải là điều đáng phải quá ngạc nhiên’.

    Tôi nhớ sau 1975, khi TBT/CS Nguyễn Văn Linh thử chơi trò “cởi trói văn nghệ”, nhà thơ Chế Lan Viên đã cho ra đời bài thơ “Trừ Đi”, đọc mà “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”:
                Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
                Có phải tôi viết đâu? Một nửa
                Cái gì cần viết vào thơ tôi đã giết đi rồi!
                ……….
                Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình
                Và thơ này rơi đến tay anh
                Anh bảo đấy là tôi?
                – Không phải!
                Nhưng cũng chính là tôi – người có lỗi!
                Đã giết đi bao nhiêu cái
                Có khi không có tội như mình!

    Chí ít, tác giả của “Điêu Tàn” (năm 1937) cũng đã nhận ra được cái nhục của mình!

    • editor

      Xin cảm tạ anh Phạm Tín An Ninh với comment rất “thẳng thừng!”

      Về điều anh ghi:

        Có điều không hiểu tại sao đám (lãnh tụ) CS từng công khai khinh miệt “trí thức” nặng nề như thế mà ở Việt Nam ( đặc biệt miền Nam) lại có nhiều nhân vật (được cho là) trí thức lại chạy theo CS để có nhiều người đã phải khốn đốn ân hận cả một đời. Từ LS Nguyễn Mạnh Tường, Nhà Triết học Trần Đức Thảo cho đến sau này như BS  Dương Quỳnh Hoa, BS Lê Khắc Quyến và nhiều “bộ mặt” khác nữa.. Và lạ hơn là qua cuộc “Cách Mạng Văn Hóa” tại Trung Cộng và “Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm” tại miền Bắc Việt Nam vẫn chưa làm cho đám trí thức này… “sáng mắt, sáng lòng!”

      Tôi xin đưa ra nhận xét riêng của một người bình thường hay tò mò và thích quan sát, nhưng không phải là một nhà chuyên môn về phân tâm học (psychoanalyst) hay tâm bệnh học (psychopathologist).

      Rất có thể:

      • Chiến tranh đã “thức tỉnh” trí thức. Từ đó, họ thấy rằng trí thức đã thiếu trách nhiệm của một con dân trong đất nước chiến tranh. Quả vậy, có được bao nhiêu trí thức dấn thân vào chiến tranh và chết chóc? Phần còn lại là đại đa số, thì ở tận đáy tâm tư của họ, quý vị này biết rằng họ không đủ can đảm cầm súng chiến đấu chống Pháp, chống Mỹ. Và trong khi họ yên ổn, thì hàng hàng lớp lớp người khác đã ngã gục.
      • Khi nhận diện ra điều đó, tâm tư của người trí thức bị dằn vặt, cấu xé bởi sự tủi hổ bắt nguồn từ điều vẫn được biết đến là “mặc cảm tội lỗi” (feeling guilty), tựa như “survivor guilt” (cảm thấy tội lỗi khi người khác chết mà mình sống sót trong một biển cố thảm khốc).

      Để giải trừ mặc cảm đó VÀ vẫn không phải đi vào chiến trường, hiểm nguy cho tính mạng, thì cách hay nhất cho các thành phần này là tình nguyện “chiến đấu” cho ý thức hệ, cho đảng trong vai trò “suy tưởng” hay “sáng tác” ― dưới sự chỉ đạo và hoàn toàn tuân phục lãnh đạo ― để được “phục vụ” (?!) tại những nơi ẩn trú an toàn.

      Tình trạng này xem ra rất “phổ quát” và “nhất quán” trong giới được gọi là trí thức, văn nghệ sĩ trong chế độ cộng sản Việt Nam: rất “khôn ngoan” và giỏi luồn cúi trước lãnh đạo.

      Điều này có thể phần nào giải thích được “hiện tượng” ngược đời là trí thức, văn nghệ sĩ bị chửi rủa khinh miệt mà lại vẫn cúc cung phục tòng lãnh đạo cộng sản.  

      Một điều cần phải nên luôn luôn “cảnh giác” và đừng bao giờ quên là những gì được gọi “hiện tượng” – như là một thể hiện nhất thời – mà vẫn liên tục xảy ra và hiện hữu trong một thời gian dài thì những thể hiện đó chính là sản phẩm của “bản chất.”

      Hiển nhiên cũng có những vị văn nghệ sĩ, trí thức can trường và sĩ khí mà Hữu Loan là một tiêu biểu sáng ngời. Sau 1975, là phải nói đến một nhà văn nữ thành thực với lương tri, sòng phẳng với sự thực và dũng mãnh như hổ tướng Bùi Thị Xuân. Đó là nhà văn Dương Thu Hương. Đáng tiếc là những can đảm trí thức đó quá hiếm.

      Cũng hiển nhiên là những nguồn sáng hiếm hoi quý báu đó không thể xuyên thủng “thiên đường mù” nơi trí thức, văn nghệ sĩ vẫn khúm núm, xun xoe quanh lãnh đạo.

      Trong giới trí thức, văn nghệ sĩ “ưu tú” đó có kẻ còn hành xử quá trơ trẽn và vô liêm sỉ, nhìn từ quan điểm của dân tộc Việt.

      Như thơ của một trong những “Ngôi sao sáng nhất” trong thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỷ 20 (trong những ngôi sao sáng đó có nhà thơ Hồ Chí Minh, Chế Lan Viên) là “nhà thơ lớn của dân tộc” Tố Hữu:

                Xít-ta-lin! Xít-ta-lin!
                Yêu biết mấy, nghe con tập nói
                Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!
                …

                Ông Xít-ta-lin ơi! Ông Xít-ta-lin ơi!
                Hỡi ôi, Ông mất! Đất trời có không?
                Thương cha, thương mẹ, thương chồng
                Thương mình thương một, thương Ông thương mười

      Đến là phải lợm giọng!

      Sang đến thời bình không còn chiến tranh, thì sự đời bên ngoài cứ gọi là nháo nhào, hỗn mang chi sơ. Và các “chiến sĩ văn hoá,” các “mũi nhọn trí thức” loại tối ưu bỗng nhiên “ngộ” ra là thay vì phải phấn đấu vất vả như bao người bình thường khác, thì hay nhất vẫn là chọn sự nhàn nhã, thanh cao kiểu “kẻ sĩ” như Nguyễn Bình Khiêm. Muốn vậy, thì tốt nhất vẫn phải là cúi đầu, ôm chân lãnh đạo.

      Còn như trí thức hay văn nghệ sĩ thuộc thứ hạng kém hơn, thì cứ lau nhau bon chen danh lợi, cho dù chỉ là những thứ “bèo” như được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam.

      Rồi từ nạp bản thảo, đến chạy chọt xin ấn hành. Rồi xoay xở để được trả nhuận bút cao (td: cho 20.000 cuốn được in ra). Rồi xầm xì, xiên xỏ, tâng bốc nhau … Náo nhiệt như đang ở giữa chợ trời. Ồn ào như đang trong truyện dân gian: Lục Súc Tranh Công.

      Riêng đối với những “tự khai, tự kiểm” cũng của một trong những “Ngôi sao sáng nhất” trong thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỷ 20 là nhà thơ Chế Lan Viên, như được ghi trong bài thơ “Trừ Đi” thì sao?

      Phải nói rằng khi xét đến giá trị “ý tại ngôn ngoại” của vị “phù thủy chữ nghĩa” Chế Lan Viên, mà không kèm theo hành động cụ thể nào để đối chiếu, thì những văn hay chữ tốt đó chỉ là những ảo ngôn.

      Có câu thành ngữ tiếng Anh: “Talk is cheap. Action speaks louder than words.” Nói thì rẻ mạt. Hành động mới giá trị nhiều hơn chữ.

      Nếu bài thơ Trừ Đi đọc lên nghe rất “đắc nhân tâm” nhưng chẳng có hành động tương ứng nào có giá trị tốt đẹp, thì đó cũng hệt như điều người Mỹ sỗ sàng, nhưng chính xác gọi là: “Talking out of both sides of his mouth” – Nói nước đôi: Ngược cũng đúng; Xuôi cũng chẳng sai. (Dịch theo nghĩa đen: Lời tuôn ra cả hai bên mép.)

      Còn như miệng lưỡi lúc nào cũng trơn tuột bất kể đến lương tri, thì đến bao giờ trí thức, văn nghệ sĩ mới nói được lời của Người Tử Tế? Đã không là người tử tế thì đừng than thở, phiền trách gì về việc “lãnh đạo sâu sắc khinh bỉ trí thức, văn nghệ sĩ.”

      Nói ra điều khó nghe này với cả một sự bi quan vì tính ra đã 7-80 năm rồi, độc lập, tiến bộ đã bao nhiêu năm rồi, thế nhưng thành phần trí thức ưu tú của Việt Nam vẫn không thể thoát ra được khỏi vũng lầy nhớp nhúa đã “dung chứa” họ như một thứ đồ chơi rẻ tiền để “Lãnh đạo sâu sắc khinh bỉ!” Quá đáng buồn. -Trần Trung Tín

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *