Quan sát. Lắng nghe. Ghi nhận. Chia sẻ

Dị Biệt Nơi Phan Nhật Nam Và John Duffy Về Trận Charlie, 1972

Đầu tháng 7, 2022, Tổng Thống Biden trao  thưởng Medal of Honor cho Thiếu Tá John J. Duffy, vị Sĩ quan Cố vấn của Tiểu Đoàn 11 Dù, vì ông đã có những hành động anh hùng và nghĩa cử cao đẹp đối với các chiến hữu của ông trong Tiểu Đoàn 11 Dù nơi Trận chiến tại Căn cứ Hỏa lực Charlie, Nam Việt Nam, 1972.

Dù 50 năm đã qua, sự việc trên vẫn đem lại cho tôi những hình ảnh về chiến sự và hy sinh xương máu của quân dân Miền Nam chống lại sự xâm lăng của cộng sản trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.  

Với tâm trạng đó, tôi đã đọc tập thơ The Battle for “Charlie” của John J. Duffy.

Nơi tập thơ này, sự chiến đấu dũng cảm và hy sinh kinh hoàng của những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù được ghi lại bằng những giản dị và sắc nét đến lạnh người.

Là một sĩ quan cố vấn, Duffy có thể “thấy” trước được số phận của đơn vị. Nhưng là một chiến binh của Tiểu Đoàn 11 Dù, ông đã sát cánh lăn xả cùng đồng đội chiến đấu cho đến giây phút cuối.

Dù vậy, ở vào những lúc nguy ngập nhất, Duffy vẫn giữ được “bình thản” để có thể “nhìn” sâu vào những hỗn mang, chết chóc đang vật vã ngay trước mắt.

Trong những phút giây đó, Duffy đã mở ra quyển sổ tay cảm nhận của ông để ghi nhanh những hào hùng cao ngất và những nỗi đau tận cùng của đồng đội khi cả tiểu đoàn bị đè bẹp, chết cứng ngay tại tâm điểm của những giao lộ tử thần.

Qua The Battle for “Charlie,” Duffy như “vẽ” lại được những thảm khốc và bi hùng mà cả binh sĩ và sĩ quan Tiểu Đoàn 11 Dù phải đương đầu và nhận chịu.

Sau khi đọc hết tập thơ này, tôi đã cố gắng ghi lại một số cảm nghĩ trong bài viết Người Khinh Binh Cuối Cùng Tại Căn Cứ Hỏa Lực Charlie, đăng ngày 30/7/2022.

Rồi ít lâu sau, tình cờ được anh bạn gửi đến một link cho bài viết Mặt sau tấm huy chương gắn trễ! 1 của nhà văn Phan Nhật Nam, đề ngày 15/7/2022. 

Đọc xong văn Phan Nhật Nam và đem đối chiếu với thơ John Duffy, tôi nhận ra đôi điều rất khác biệt – đến độ phải nói là dị biệt – dù hai vị đều viết về những phút giây sau cùng tại Căn cứ Charlie. Xin ghi ra đây các phần khác biệt này.

I. Cứu Người Trong Lửa Đạn

Trong Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!, nhà văn Phan Nhật Nam đã viết về việc rút lui như sau:

Ðơn vị tan thành mảnh nhỏ, từng toán chiến đấu đơn độc. Tiếng chửi thề và tiếng la hét của ta, của địch vang khắp khu rừng lau và các sườn đồi kế cận, chỗ nào cũng có súng nổ. Ðịch gọi tên Mễ, Hải ra đầu hàng! Ngay lúc đó, Duffy cũng vừa liên lạc được với hai chiếc trực thăng võ trang Cobra, một chở quân và một O2 quan sát.

Nhờ địa thế trống trải của khu rừng lau nên Cobra thấy rất rõ đâu là địch, đâu là bạn. Toán còn 36 người di tản làm năm đợt vì chỉ có một trực thăng chở quân…

Về việc rút lui trên, ông Duffy đã ghi ra các chi tiết rõ ràng, qua cuộc đối thoại giữa Dusty (ám danh truyền tin của Thiếu Tá Duffy) và Covey, viên phi công bay yểm trợ:

“Bốc” Trong Lửa

“Dusty, đây là Covey, chuyến bốc hàng, năm phút nữa sẽ tới.
Có bốn chiếc tới bốc và một cặp trực thăng tấn công Cobras.
Tôi gần hết nhiên liệu và phải quay về căn cứ. Xong.”
“Nhận rõ, bốn chiếc tới bốc và súng, Cảm ơn Covey.”

Tôi báo cho Lê Mễ, năm phút nữa là đi, phải sẵn sàng,
Bị thương nặng lên trước, bốn chuyến.
Nhóm chúng tôi 37 được chia ra,
Bốn đợt, sẵn sàng chờ bốc lên và được giải cứu. …

Hot Extraction

“Dusty, this is Covey, lift package , five minutes out.
There are four lift ships and a pair of Cobras.
I’m low on fuel and I must return to base. Over.”
“Roger, four lift ships and guns, Thanks Covey. “

I advised Me Le, five minutes out, get ready,
Seriously wounded out first, four lifts.
Our band of thirty seven is divided up,
Four sticks, ready for lift off and rescue. …

Khi so sánh nội dung phần văn Phan Nhật Nam và thơ John Duffy bên trên, sẽ thấy có sự khác biệt về quân số, cách di tản, và phương tiện vận chuyển:

  • 36 người, 5 đợt di tản, 1 trực thăng chở quân               (Theo Phan Nhật Nam)
  • 37 người, 1 đợt “bốc” nóng, 4 trực thăng chở quân    (Theo  John Duffy)

Sai biệt giữa những con số trên có thể “du di” được nếu đó chỉ là những gì được viết ra trong lúc trà dư, tửu hậu theo kiểu “mua vui cũng được một vài trống canh.”

Nhưng, Trận Charlie 1972 và Tiểu Đoàn 11 Dù là những gì đã đi vào quân sử, lịch sử của cả Việt Nam. Kết quả của trận đánh này, ở một mức độ nào đó, còn có thể góp phần vào việc làm rạng danh quân đội VNCH trên thế giới.

Vì tính cách quan trọng như vậy của sự việc, do vậy khi một ngòi bút có tinh thần trách nhiệm viết về những số liệu liên quan đến Trận Charlie 1972, họ bắt buộc phải ghi lại những số liệu đó thật chính xác.

Hãy lắng nghe nhà thơ Duffy ghi lại những gì mà Thiếu Tá Duffy và những đồng đội còn sống sót của ông đang phải trải qua trong những giây phút cuối…

“Bốc” Trong Lửa

Tôi hướng dẫn Trưởng toán Huey đáp xuống. Trúng Như Để!
Người bị thương được đem lên và còn lại thì chen chúc trên máy bay.
Chuyến Thứ Nhất bay ra: súng máy của Bắc quân nổ rền.
Xạ thủ của địch ở phía nam, bốn mươi mét.

Hai chiếc Cobras nhào tới, thay phiên nhả đạn vào súng địch,
Súng mini (đại liên 7.62 mm, 6 nòng) và hỏa tiễn của họ bắn tung kẻ địch
Chuyến Hai vô tới, đáp xuống, lính dù lên hết và mất dạng.
Chuyến Ba theo sau, lên hết và bay ra.

Lê Mễ, Hải, hai lính dù và tôi là xạ thủ đoạn hậu.
Trong lần xuống cuối cùng này, Chuyến Bốn bị nhắm bắn dữ dội.
Phi công bỏ cách đáp cũ và đảo theo đường vòng.
Trực thăng Cobras lăn vô, nhả đạn xuống các xạ thủ của địch.

Chuyến Bốn đáp xuống bãi từ hướng khác.
Đụng đất! Chúng tôi chen chúc lên máy bay.
Tôi là người cuối cùng leo lên và cỡi trên càng trực thăng, ra dấu cho bay!
Phi công cất cánh, đạn địch lỗ chỗ bắn trúng con tàu. …

Hot Extraction

I vector Huey Leads approach. Touch Down!
The wounded loaded and the rest scramble aboard.
First Load heads out: NVA machine-gun fire erupts.
The enemy gunner is to the south, forty meters.

The Cobras roll in, each in turn fire on the gun,
Their mini guns and rockets blast the enemy.
Lift Two in, touch-down, troopers load and gone.
Lift Three is right behind, load and out.

Me Le, Hai, two troopers and myself as tail gunner.
On final approach, Lift Four comes in under heavy fire.
He aborts his approach and does a fly-around.
The Cobras roll in, expending on the gunners.

Lift Four comes in from a different direction.
Touch down! We scrambled aboard his aircraft.
I am the last on and I ride the strut, signaling go!
The pilot lifts off, enemy fire riddles the ship. …

Một cách tóm tắt, các đoạn thơ của Duffy cho biết:

    • Cần 4 trực thăng đến bốc người trong cùng 1 đợt.
    • Một trực thăng cần 5 phút (= 5′) bay đến bãi đáp để bốc người. 
    • Chiếc #1 bay ra là bị bắn.
    • 2 chiếc Cobras nhào xuống khóa họng súng địch.
    • Chiếc #2 và #3 bay ra không bị trở ngại với đạn thù.
    • Chiếc #4 (trực thăng cuối cùng) mới bay lên đã bị trúng đạn lỗ chỗ.

Những đoạn thơ bên trên của ông Duffy và phần tóm tắt đã có thể cho phép người viết đưa ra một “bảng kết toán” có lẽ tương đối khá chính xác:

  • Một chuyến trực thăng cứu người cần 10 phút bay (= 5′ bay đi + 5′ bay về)
  • Thời gian để 1 trực thăng “lên” người và “bốc” bay đi  là từ 2 đến 3 phút.
    [Con số trên được ước tính theo sự khẩn cấp của một “hot” extraction – tương tự như cuộc hành quân giải cứu con tin bị khủng bố giam giữ.]
  • Như vậy, tính ra chỉ có khoảng 9 phút “hưu chiến” bắt đầu từ lúc chiếc #1 bay đến “lên” người và “bốc” bay đi…. cho đến lúc chiếc #4 bay đến.
  • Sau khi 9 phút “hưu chiến” này chấm dứt, theo Duffy, Bắc quân sẽ nhanh chóng tập hợp lại, tụ về bãi đáp và tập trung khai hỏa vào chiếc #4.

Mặt khác, hãy cùng xem xét lại các con số mà nhà văn Phan Nhật Nam đã viết để mô tả cùng 1 việc rút lui: 36 người, 5 đợt di tản, và chỉ có 1 trực thăng chở quân.

  • Căn cứ theo “bảng kết toán” ghi trên và đặc biệt là vào phần:  ‘chỉ có khoảng 9 phút “hưu chiến”‘ thì trong 5 đợt di tản (của nhà văn Phan Nhật Nam), chỉ có đợt di tản đầu tiên là thành công.
  • Vì sau khi đợt 1 bay ra, phải 10 phút sau, đợt 2 mới đến. Khi thời hạn 9 phút “hưu chiến” đã hết, đợt 2 bay vào sẽ được đạn thù tới tấp “dàn chào” vì địch đã kịp thời nhanh chóng quy tụ về bãi đáp và khai hỏa.

Để cứu thoát được toán quân 36 người đã hết đạn, sức cùng, lực kiệt, và bị bao vây truy lùng gắt gao bởi địch quân có quân số và hỏa lực áp đảo, thì bắt buộc phải cần đến cuộc hành quân loại “hot extraction” như Duffy yêu cầu.

Để một cuộc hành quân “hot extraction” có thể thành công, bắt buộc phải cần đến hai yếu tố “bất ngờ” và “chớp nhoáng.”

Nhưng sẽ không thể có được yếu tố “bất ngờ” và “chớp nhoáng” một khi trực thăng chở người cứ “vờn qua, vờn lại” mỗi 10 phút/1 lần. Và 5 lần mới xong.

Như thể là cứ việc di tản “thoải mái,” chẳng e sợ đạn địch bắn lên vì địch quân đang trong trạng thái… tiềm sinh!

Cho được công bằng, nếu những phân tích và nhận xét trên của người viết không phản ánh đúng với thực tế chiến trường lúc đó, thì những điều này cũng chỉ có giá trị như bản tin của vị phóng viên chiến trường tường trình tin chiến sự đang “nóng hổi” trên chiến trường trong khi vị đó đang ngồi “bốc” trong bar rượu mạnh.

Bởi thế, nhằm để làm sáng tỏ sự việc trên, điều hay nhất ở đây vẫn là được nhà văn Phan Nhật Nam giải thích ngọn ngành về xuất xứ của các con số quan trọng mang tính cách sinh tử trong cuộc rút lui cuối cùng qua câu ông đã viết: “Toán còn 36 người di tản làm năm đợt vì chỉ có một trực thăng chở quân.”

II. Một Huyền Thoại Không Thể Có Thực

Cũng trong Mặt sau tấm huy chương gắn trễ! nhà văn Phan Nhật Nam đã viết:

Ngay lúc đó, cặp Cobra, trực thăng võ trang mới vào vùng. Trực thăng vừa đáp, Hải lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên… Thảng thốt, Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn năm cây số, nhưng là năm cây số đồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?!

Anh sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bầy kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương, sẽ rữa nát hình hài! Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn… Trực thăng sà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh… Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng.. 

Khi đọc xong đoạn văn trên hẳn sẽ ít có người đọc nào lại không bị vừa xúc động và vừa vui mừng quá đỗi cho một cảnh đời vừa bi thương và vừa kỳ diệu như vậy.

Phải thực sự nói rằng, những lúc như vậy, văn của nhà văn Phan Nhật Nam như có ma lực cuốn hút phát ra từ một vị phù thủy chữ nghĩa đầy phù phép.

Đáng tiếc để phải nói rằng những lúc như nói trên không hề có thực!

Hãy đọc mươi dòng thơ của Duffy,  không cảm xúc tưởng tượng, không xảo ngôn đầy kịch tính, chỉ trần trụi, lạnh lùng và “vô cảm:”

Hot Extraction

… Lift Four comes in from a different direction.
Touch down! We scrambled aboard his aircraft.
I am the last on and I ride the strut, signaling go!
The pilot lifts off, enemy fire riddles the ship.

PING! PING! PING!, Hai is hit and falling.
On the strut, I reach out, grabbing his web gear.
I throw him back into the aircraft, Me Le helps.
I crawl into the helicopter, Me Le is treating Hai. …

“Bốc” Trong Lửa

… Chuyến Bốn đáp xuống bãi từ hướng khác.
Đụng đất! Chúng tôi chen chúc lên máy bay.
Tôi là người cuối cùng leo lên và cỡi trên càng trực thăng, ra dấu cho bay!
Phi công cất cánh, đạn địch lỗ chỗ bắn trúng con tàu.

BỤP! BỤP! BỤP!, Hải bị trúng đạn và đang rớt.
Trên càng trực thăng, tôi nhoài ra, nắm lấy dây ba chạc của anh ta.
Tôi ném anh ngược trở lại máy bay, Lê Mễ giúp.
Tôi bò vô trong trực thăng, Lê Mễ đang săn sóc Hải. …

Theo đó, người cuối cùng leo lên trực thăng là ông Duffy (I am the last on and I ride the strut, signaling go!), không phải ông (Đoàn Phương) Hải, như nhà văn Phan Nhật Nam ghi. (Trực thăng vừa đáp, Hải lên sau cùng.)

Rồi ông Hải bị trúng đạn và rơi khỏi máy bay. (Hai is hit and falling.) Trên càng trực thăng, ông Duffy nhoài ra, nắm dây ba chạc của ông Hải. (On the strut, I reach out, grabbing his web gear.) Ông Duffy ném ngược ông Hải vào trong máy bay, ông (Lê Văn) Mễ giúp. (I throw him back into the aircraft, Me Le helps.)

Đoạn thơ trên của ông Duffy như một khúc phim chiếu chậm, tuần tự đi qua từng “phân cảnh” theo đúng trình tự của diễn tiến.

Tuy nhiên, trong những “phân cảnh” đó của ông Duffy không có cảnh nào giống như “thảm cảnh” mà nhà văn Phan Nhật Nam đã viết ra:

Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên… Thảng thốt, Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn năm cây số, nhưng là năm cây số đồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?!

Và trong đoạn “phim” chiếu rất chậm đó của ông Duffy, cũng tuyệt nhiên không có cảnh hào hùng và độc đáo mà nhà văn Phan Nhật Nam đã phóng bút mô tả:

…Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn… Trực thăng sà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh… Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng.. 

Hình ảnh cứu người rất hào hùng và độc đáo như trên vẫn thường được thấy trong các phim ảnh chiến tranh của Hollywood (như phim Rambo). Những hình ảnh rất “bắt mắt” đó sẽ làm khán giả xem phim trầm trồ tán thưởng và vỗ tay khen ngợi.

Tuy nhiên, về mặt chữ nghĩa, nếu đọc sách báo trong tinh thần tìm hiểu và không để bị cảm tính làm mờ đi sự nhận xét, thì sẽ không phải là điều quá khó để người đọc nhận ra được khác biệt giữa “hư cấu” và “hiện thực.”

Lại càng dễ dàng nhận diện ra được chângiả khi có thể đem mạch văn đầy cảm xúc giả dối ra đối chiếu với dòng thơ giản dị, ngắn ngủi như ít giây phút cận kề với thần chết.

Ở đây câu hỏi sẽ phải đặt ra là: Giữa văn Phan Nhật Nam và thơ John Duffy, đâu là sự thực của những giây phút sau cùng trong cuộc rút lui đẫm máu ra khỏi căn cứ Charlie?

Xin tạm thời hãy khoan trả lời câu hỏi trên mà hãy cùng bước sang phần kế tiếp để tìm hiểu thêm qua lời của các nhân chứng có tham dự trận Charlie.

III. Nhân Chứng Có Tham Dự Trận Charlie

Ngày 7 tháng 7, 1998, Đại Tướng Weyand, Tư lệnh cuối cùng của Quân đội Mỹ tại Việt Nam (1972-1973), gửi thư lên Thượng Nghị Sĩ Daniel Inouye, Tiểu bang Hawaii, yêu cầu Thượng Nghị Sĩ đề nghị lên Quốc Hội Hoa Kỳ ân thưởng Medal Of Honor cho Thiếu Tá Duffy. Sau đó văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Inouye chuyển hồ sơ sang Bộ Lục quân Hoa Kỳ để tiến hành các thủ tục điều tra, và xác nhận giá trị của các bằng chứng, cũng như các chứng từ của nhân chứng.

Ngày 5 tháng 7, 2022, Thiếu Tá Duffy được ân thưởng Medal Of Honor.

Thời gian xét duyệt tổng cộng là 24 năm (kém 2 ngày). (Có thể đọc thêm về các chi tiết này trong Người Khinh Binh Cuối Cùng Tại Căn Cứ Hỏa Lực Charlie.)

Ngoài Đại Tướng Weyand, còn có 11 người khác làm nhân chứng cho Thiếu Tá Duffy. Trong đó có 2 chứng nhân chứng kiến tận mắt (eyewitness): Trung Tá Lê Văn Mễ, và Thiếu Tá Đoàn Phương Hải là các sĩ quan chỉ huy Tiểu Đoàn 11 Dù.

Xin được trích dịch lại một phần trong các chứng từ đã đệ nạp bằng Anh ngữ2 của ba vị Trung Tá Peter Kama, Trung Tá Lê Văn Mễ, và Thiếu Tá Đoàn Phương Hải.

  • Trung Tá Peter Kama

Là sĩ quan cố vấn cao cấp cho Lữ Đoàn 2 Dù trong Easter Offensive, 1972 (Chiến dịch Xuân-Hè, 1972), Trung Tá Peter Kama là sĩ quan chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tá Duffy – sĩ quan cố vấn cao cấp cho Tiểu Đoàn 11 Dù.

Chứng Từ (trích)

…Chiếc máy bay thứ nhất trúng đạn địch. Thiếu Tá Duffy dùng hỏa lực không quân tiêu diệt vị trí súng máy của địch. Chiếc 2 và 3 ít hoặc không trúng đạn địch. Với địch quân đang đuổi đến gần, Ban Chỉ huy cho chiếc 4 xuống. Thiếu Tá Duffy đi đoạn hậu, bắn che bằng súng CAR-15 của mình và điều động trực thăng Cobras bắn vào kẻ thù trên máy truyền tin cấp cứu của ông. Chiếc trực thăng này bị trúng đạn tơi tả khi họ leo lên. Đại Úy Đoàn Phương Hải bị trúng đạn nơi bàn chân và ngã ra ngoài. Thiếu Tá Duffy chụp được ông ta khi ông ta ngã và ném ông ta lên sàn tàu khi họ cất cánh. Thiếu Tá Lê Văn Mễ băng bó cấp cứu Đại Úy Hải…

Statement (excerpt)  

… The first lift ship took enemy fire. Major Duffy employed air assets to destroy the enemy machine gun position. Number 2 and 3 lifts received little or no enemy fire. With the enemy in close pursuit, the Command Group ran to board Lift 4 ship. Major Duffy brought up the rear, covering with his CAR-15 and directing the Cobras fire at the enemy on his survival radio. The ship was being riddled as they climbed aboard. Captain Hai Doan was hit in the foot and fell out. Major Duffy caught him as he fell and threw him aboard as they lifted off. Major Le gave first aid to Captain Hai. …

  • Trung Tá Lê Văn Mễ

Trách vụ cuối cùng: Trưởng Phòng 3 Hành Quân của Sư Đoàn Dù, 1975
Trong Trận Charlie: Tiểu Đoàn Phó và Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù

Chứng Từ  Chứng kiến Tận mắt (trích)  [Ngày 1 tháng 8, 2012]

… Mặc dù người Mỹ có ưu tiên di tản, Thiếu Tá Duffy đưa ra khuyến cáo ông sẽ là “người cuối cùng thoát ra ngoài.” Bắc quân đã tập hợp lại và tràn ngập Bãi Đáp. Khi chúng tôi trên máy bay đang bay, sĩ quan ban 3 của tôi, Đại úy Hải, bị trúng đạn vào bàn chân và bị văng ra khỏi máy bay. Đứng trên càng trực thăng điều động các cuộc không kích, Thiếu Tá Duffy nhoài ra và chụp lấy ông ta và ném ông ta vào trở lại trực thăng. Thiếu Tá Duffy tiếp tục đeo trên càng trực thăng cho đến khi chúng tôi dọn sạch bãi đáp. …

Eyewitness Statement (excerpt)  [August 1, 2012]

… Even though Americans had priority in evacuations, Major Duffy advised he would be “the last man out.” The NVA regrouped and stormed the Landing Zone. As we drove for the aircraft, my S-3 Captain Hai was hit in the foot and was knocked out of the aircraft. Major Duffy, who was standing on the skid directing airstrikes, reached out and caught him and threw him back into the helicopter. Major Duffy continued to ride the skid until we cleared the LZ.  …

  • Thiếu Tá Đoàn Phương Hải

Trong Trận Charlie: Sĩ Quan Trưởng Ban Hành Quân của Tiểu Đoàn 11 Dù

Chứng Từ  Chứng kiến Tận mắt (trích)

… Thiếu Tá Duffy xác định vị trí bãi đáp và xếp đặt vòng đai phòng thủ. Rồi qua máy truyền tin cấp cứu của mình, ông gọi máy yêu cầu được khẩn cấp bốc ra. Chuyến rút ra đầu tiên trúng đạn súng máy bắn trực xạ từ phía nam. Thiếu Tá Duffy điều động máy bay tấn công, cả loại có cánh và trực thăng, vào các vị trí quân địch. Chuyến hai và ba vào đến dưới một hỏa lực vừa phải nhắm bắn họ. Chuyến bốn, chuyến cuối cùng đã đến nhặt lên 5 người còn sống sót của Tiểu Đoàn 11 Dù: Thiếu Tá Duffy, Thiếu Tá Mễ, chính tôi và 2 binh sĩ.

Hỏa lực của Bắc quân cực kỳ dữ dội và rất chính xác. Sau khi lên máy bay, tôi bị bắn vào bàn chân phải. Tôi ngã và thân thể tôi dường như đang treo trong không khi tôi rơi theo hướng xuống mặt đất. Thiếu Tá Duffy (đang đứng trên càng của máy bay trực thăng điều động các cuộc không kích), nắm lấy dây đai đeo đạn của tôi khi tôi rơi ngang qua ông ta và kéo tôi vào bên trong trực thăng. Chiếc máy bay đến cứu bị mất kiểm soát trong chốc lát sau khi bị trúng đạn phòng không trong khi chúng tôi đang bay vút ra ngoài. …

Eyewitness Statement (excerpt)

… Major Duffy located the LZ (Landing Zone) and organized the perimeter defense. He then called for an emergency extraction on his survival radio. The first lift out took point blank machine gun fire from the south. Major Duffy worked the strike aircraft, both fixed wing and helicopter on the enemy positions. Lift two and three got in with moderate fire directed at them. Lift four, the last life was to pick up the 5 remaining survivors of the 11th Airborne Battalion: Major Duffy, Major Me, myself and 2 soldiers.

The NVA fire was extremely heavy and very accurate. After boarding the ship, I was shot in the right foot. I fell and my body seemed to be hanging in the air as I fell towards the ground. Major Duffy (who was standing on the skid of the helicopter directing air strikes), grabbed my cartridge belt as I fell past him and pull me into the helicopter. The rescue ship temporarily lost control after being hit by anti-aircraft fire as we were pulling out. …

Image chụp từ quyển The Battle for “Charlie”, tác giả John Duffy. Uploaded Nov 28, 2025

Đến đây, chúng ta có thể quay trở lại câu hỏi đã được đưa ra ở phần trên:

Giữa văn Phan Nhật Nam và thơ John Duffy, đâu là sự thực của những giây phút sau cùng trong cuộc rút lui đẫm máu ra khỏi căn cứ Charlie?

Tuy thế, hẳn chúng ta cũng có lần nghe nói đến câu thành ngữ Anh văn: The facts speak for themselves. Tạm dịch: Sự kiện có thực tự nó nói lên được ý nghĩa.

Theo tinh thần của câu thành ngữ trên, sau khi đọc xong phần trích dịch chứng từ của ba vị Trung Tá Peter Kama, Trung Tá Lê Văn Mễ, và Thiếu Tá Đoàn Phương Hải, thiết nghĩ, mọi người đều có thể tìm được câu trả lời chính xác cho chính mình.

IV. Tạm Kết

Về phần người đọc, ai cũng có thể kiểm chứng những con số, hay các chứng từ được trích dùng trong bài viết này qua các links hay sách đã được ghi chú.

Về phần người viết, cũng đã ghi lại được khá đầy đủ những điều cần phải ghi ra và nói lên được những gì cần thiết để phải nói, trong khuôn khổ của một bài viết.

Trước khi kết thúc, xin được ghi lại đôi điều mà tôi chia sẻ với người bạn khi trao đổi vài quan tâm về sách báo:

Bác VTT, xin cảm tạ bác đã gửi cho tôi link của bài “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!.” Vì thế tôi có dịp ôn lại các chi tiết của Trận chiến tại Charlie kỹ càng hơn.

Nhưng tôi không cảm tạ bác về lời khuyên đừng nên viết nhận xét hay phê bình bài viết trên vì như thế sẽ lại càng gây thêm “chia rẽ” và “phân hóa” trong cộng đồng người Việt và làm lợi cho Việt cộng.

Thực ra, lời khuyên trên sẽ rất đúng trong những trường hợp không đáng phải nói.

Tuy nhiên, khi nhìn theo khía cạnh liên quan đến một sự kiện lịch sử  quan trọng, thì sẽ một điều rất là sai khi “thủ khẩu như bình” trước những bóp méo hay nhào nặn các chi tiết quan trọng liên quan đến sự kiện lịch sử đó.

Cho dù là những việc bóp méo hay nhào nặn này xuất phát từ những guồng máy tuyên truyền, hoặc văn nô, bồi bút hay ngay cả từ  các “phù thủy chữ nghĩa” chuyên lạm dụng hoặc lợi dụng chữ nghĩa.

Trong hướng nhìn này thì ‘Im lặng đúng là đồng lõa.’ Và, đối với tôi, những chi tiết quan yếu về Trận chiến tại Charlie đủ quan trọng để không thể bị bỏ mặc trước những sự bôi bác hay ngụy tạo do bởi sự thiếu lương thiện chữ nghĩa.

Thêm nữa, người Việt chúng ta hẳn vẫn khá quen thuộc với câu nói: “Cây kim để lâu trong bọc, rồi cũng sẽ có ngày lộ ra.”

Đã 50 năm. Đã 1/2 thế kỷ. Tính từ  tháng 4, 1972 khi trận chiến tại căn cứ Charlie chấm dứt cho đến thời điểm hiện tại, tháng 11, 2022.

1/2 thế kỷ là 1 số đo ngắn ngủi tính theo chiều dài lịch sử của Việt Nam.

Nhưng 50 năm là 1 số đo rất dài tính theo thời gian của một đời người.

Đừng nên quên là các chiến binh Tiểu Đoàn 11 Dù, những người đã tham dự trận chiến hào hùng năm xưa, nếu hôm nay còn hiện diện, đều đã là “Old soldiers.”

Những người lính già, những “Old soldiers” đó của Tiểu Đoàn 11 Dù, chắc chắn rồi sẽ “mai một,” sẽ  “fade away” như  đã được Đại Tướng MacArthur vinh danh nhắc đến trong câu nói đầy ý nghĩa: “Old soldiers never die–they just fade away.”

Bởi đó, nếu không phải là lúc này, thì đến bao giờ Sự Thực của cuộc hành quân cứu sống 37 chiến binh còn sống sót của Tiểu Đoàn 11 Dù ra khỏi căn cứ Charlie, 1972 mới nên được phục  hồi?

Đừng nên chờ đến lúc đã quá muộn màng khi ngơ ngác nhìn quanh và tự hỏi:

“Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ.”3

Dù đã là điều hiển nhiên, người viết cũng muốn nhắc lại là: Trách nhiệm về nội dung của bài viết này phải hoàn toàn thuộc vào tôi.

Trần Trung Tín – Ngày 10  tháng 11, 2022

Ghi chú:

  • Nếu nhà văn Phan Nhật Nam có trả lời hay có ý kiến gửi đến địa chỉ email riêng của tôi hay đến gopnhatcatda2021@gmail.com thì để rộng đường dư luận, nhất là để tôn trọng sự lên tiếng của nhà văn Phan Nhật Nam, phần trả lời hay ý kiến đó sẽ được đăng nguyên văn trên Blog.

Chú Thích:

  1. Có thể đọc bài viết “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!” tại các links:

  2. Bản Anh ngữ của các chứng từ đề cập bên trên được in trong The Battle for “Charlie”, Section II – Medal of Honor – Recommendation Statements. Người viết dùng bản electronic copy, mua ngày 18/7/2022 với giá $2.99.
  3. Trích trong bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên

15 Comments

  1. Nguyễn Cư

    Bài phân tích của bác Tín rất ngọn ngành… TĐ 11 lúc đó có vị BS (quên tên) cũng thoát chạy được.

    • editor

      Cám ơn bạn Cư. Vị đó là Đại Úy Bác sĩ Quân y Tô Phạm Liệu, một cái tên gắn liền với các chiến binh của Tiểu Đoàn 11 Dù. Ông qua đời năm 1997. -TTTín

  2. Vương Mộng Hùng

    Những phân tích của tác giả Trần Trung Tín rất chính xác. Có lẽ hầu hết độc giả không còn xa lạ gì với tên tuổi và cả cái “tôi” của ông Nhà văn Phan Nhật Nam. Một số tác phẩm của ông trước 1975 rất được ưa chuộng vì trong chữ nghĩa có “máu lửa” của thực tiễn chiến trường, nhưng từ khi ra hải ngoại ông nhà văn này viết lung tung với quá nhiều sáo ngữ tối nghĩa, và đa phần chỉ là viết theo, nghe lóm trong các lúc trà dư tửu hậu, nên có rất nhiều dữ kiện thiếu chính xác, kiểu “tự biên tự diễn”như bài viết mà tác giả Trần Trung Tín đã chỉ ra. Ông Nam ra khỏi Nhảy Dù khi còn trung úy. Từ đó ông chỉ quanh quẩn ở Sài gòn, có đánh đấm gì đâu mà viết chuyện chiến trường? Đã vậy, ông ta còn trịch thượng chỉ trích một cách khá lố bịch những tác giả từng chỉ huy, tham dự cuộc chiến, như trường hợp Th.Tá ND Trương Đăng Sĩ với bài tường thuật về trận chiến tái chiếm cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị, mùa Hè 1972. Thật đáng tiếc!

    • editor

      Cám ơn ông Vương Mộng Hùng đã góp ý kiến. Khi làm công việc phân tích trong bài, tôi đã gắng hết sức để “nhìn” và lượng định sự việc được nhà văn Phan Nhật Nam viết căn cứ trên quyển sách thơ đã xuất bản của ông Duffy và các bản chứng từ của những người trong cuộc vì tính cách lịch sử của sự việc. Thân kính. -TTTín

  3. Bichson

    Bài viết Dị Biệt của Anh đưa ra một cái nhìn chân thực, phân tích xác đáng có tính khoa học phù hợp với cảm tính và kiến thức của người lính chiến. Nó không làm giảm sự say mê khi (trước đây vào nửa thé kỷ) đọc bút ký Mùa Hè Đỏ Lửa trong đó có bài Charlie Tên Nghe Quá Lạ của nhà văn Phan Nhật Nam. Nhưng tác giả Phan Nhật Nam phóng bút quá đáng trong bài viết Mặt Sau Tấm Huy Chương Gắn Trễ sẽ gặp phản ứng và sự nhìn nhận của từng người đọc. Cứ để bài Dị Biệt như thế, như cột mốc lẻ loi trên đỉnh núi, chắc ít người chịu khó tìm đến xem thử sau khi đã leo lên một độ cao mệt nghỉ.

    • editor

      Tôi không có ý nghĩ hay ý định là phải sửa đổi bài viết này chỉ vì lý do tạm gọi là “nhậy cảm” của người đọc. Bài viết được đón nhận như thế nào thì tùy theo cảm quan và vị trí của từng người đọc. Không bài viết nào có thể làm vừa lòng được mọi người.

      Tuy nhiên, đối với tôi, điều phải được xem là quan trọng là những dữ liệu hay tin tức trong bài viết này có thực sự là “fact” hay không, có thể kiểm chứng hay chỉ là do trí nhớ ghi lại. Không có bài viết nào là hoàn toàn hoàn hảo. Vì vậy, nếu bài viết dùng những tin sai lạc, từ những nguồn không đáng tin cậy, và khi có người chỉ ra chỗ sai sót, thì đối với một ngòi bút có tinh thần trách nhiệm và tôn trọng chữ nghĩa, họ bắt buộc phải công nhận sự sai sót đó và phải hiệu chỉnh. Và, nếu sự việc đó xảy ra cho tôi, thì 100% tôi sẽ công khai nhận sự sai sót và sửa chữa. Cám ơn anh Bichson. -TTTín

  4. Nguyễn Bá Toản

    Phan Nhật Nam là nhà văn chuyên nghiệp viết tiểu thuyết vs [trong khi] John Duffy là anh lính tác chiến kiêm nhà thơ thấy sao ghi thế.

    Tiểu thuyết luôn kèm “hư cấu”, nhất là lối viết về trận mạc trong chiến tranh VN của Phan Nhật Nam như MHĐL–1972… nhiều khi đọc cho vui hay để giải sầu thôi. Cũng có một số tiểu thuyết được học sinh/sinh viên đọc để trau dồi sự hiểu biết về môn văn chương hay để tập làm văn… Ngoài ra có một số tiểu thuyết có khả năng kích động những thanh niên thiếu nữ có máu bồng bột… Nhà văn PNN không có mặt tại các trận MHĐL–1972 và Đồi Charlie… ông viết theo lời kể lại của ai đó cộng với “sự tưởng tượng khéo léo…” của ông để hấp dẫn độc giả hòng đánh bóng tên tuổi mình… có thế thôi!

    Bài thơ của John Duffy thuộc loại “bút ký”, loại văn “thấy sao nói vậy người ơi…”.

    Về phương diện nghiên cứu có tính lịch sử, thì văn ở thể Bút ký là loại tin tức có “thật”, loại “serious story!” Trong trường hợp này, tác giả bài thơ lại là diễn viên chính tại hiện trường (trận Đồi Charlie) từ đầu đến đuôi, vì vậy John Duffy có đủ điều kiện mắt thấy tai nghe. Là loại văn khả tín 100% dùng làm tài liệu nghiên cứu hay đọc để rõ thực–hư ra sao!

    tkd

    • editor

      Kính ông Nguyễn Bá Toản (http://www.nhayduwdc.org),

      Xin rất cảm tạ ông đã đọc và cất công ghi ra ý kiến để chia sẻ với độc giả của blog. Về phần tiểu thuyết, tôi rất đồng ý với điều ông ghi: Tiểu thuyết luôn kèm “hư cấu”, nghĩa là tiểu thuyết có nhiều điều tưởng tượng và không thực. Là một người đọc, tôi không có vấn đề gì khi đọc tiểu thuyết “hư cấu” của nhà văn Phan Nhật Nam.

      Tuy nhiên, theo suy nghĩ riêng, bài viết “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!” của nhà văn Phan Nhật Nam không phải là một bài viết thuộc loại hư cấu. Mà đó là bài viết về những diễn tiến có thực của một trận đánh lừng lẫy, với các nhân vật trong cuộc đều được ghi tên thật, và bài viết này còn mang tính cách như là để tường trình một sự kiện lịch sử với các “nhân chứng” sống có mặt trong cuộc. Trừ phi trong bài viết trên, tác giả Phan Nhật Nam có lời “phi lộ” rõ rệt, đại ý: “Đây là một bài viết mang tính tưởng tượng và mọi sự trùng hợp, nếu có, đều là điều ngoài ý muốn của tác giả…” thì sẽ không có gì để phải bàn về việc “hư cấu” vs “sự thực”. Còn không, thì bài viết trên của ông Phan Nhật Nam phải được xem là một bài viết căn cứ trên sự thực.

      Bởi đó, khi những “tường trình” về một sự kiện lịch sử đã được thực hiện bởi một ngòi bút đã thành danh từ lâu như ông Phan Nhật Nam và được rộng rãi phổ biến đến người đọc, mà lại có chỗ bị sai lạc một cách quá đáng, nếu không muốn nói là ngụy tạo, thì bài viết đó sẽ có một tác dụng rất tai hại, nhất là trong mai hậu.

      Xin được ghi sơ lại những gì tôi còn nhớ chút ít về quyển Lịch sử Nội chiến Việt Nam của Tạ Chí Đại Trường viết về thời Tây Sơn Nguyễn Huệ. Trong quyển sử này (được giải thưởng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu) nhà sử học họ Tạ đã sưu tầm các thư riêng của các vị cung phi của nhà Lê – vẫn còn thù ghét nhà Tây Sơn – bày tỏ mối lo ngại của họ trước sự tự cao tự đại của đại quân Tôn Sĩ Nghị và không thèm lưu tâm đến “cảnh báo” của những thành phần “phò Lê” về nguy cơ sẽ bị đạo quân thần tốc của nhà Tây Sơn đánh bại. Nhà sử học còn tìm đến cả các thư riêng của các vị linh mục/giáo sĩ gửi cho nhau bàn về sự bắt lính ngặt nghèo của quân Tây Sơn khi ra đến Nghệ An và cánh quân mới được “tuyển dụng” đó được đặt dưới sự trực tiếp chỉ huy của Vua Quang Trung. Nhưng đến khi ra trận, theo lời các vị giáo sĩ, cánh quân tân binh mới “tuyển” này đã chiến đấu vũ bão với tinh thần của một đạo quân xung kích đầy kinh nghiệm chiến trường. Và nhờ đó, kẻ hậu sinh như tôi mới thấy được thế nào là sức mạnh ghê gớm của đạo quân Tây Sơn, với chính nghĩa đánh quân Tàu, lấy sức dân làm chính, đã huy động được toàn dân để thần tốc đánh bại đại quân nhà Thanh đông hơn gấp bội.

      Ghi lên điều này để cho thấy rằng, đối với một bài viết về sự kiện lịch sử của một nhà văn như ông Phan Nhật Nam, thì dù tác giả có muốn hay không, bài viết đó rồi cũng sẽ là một phần trong các nghiên cứu lịch sử của các thế hệ đi sau.

      Theo cách nhìn này, thì điều “hư cấu” trong bài viết ghi trên của ông Phan Nhật Nam – một bài viết mang tính cách “tường trình” hay ngay cả “thuật lại” sự kiện lịch sử – sẽ là điều khó có thể chấp nhận được, trừ phi ông ghi rõ trong lời disclaimer của bài viết: đây là một sáng tác phẩm hư cấu.

      Một lần nữa, tôi xin được cám ơn ông Nguyễn Bá Toản đã cất công ghi lại ý kiến rất xây dựng. Dù rằng, không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông, tôi rất hy vọng những trao đổi bên trên sẽ càng làm sáng tỏ thêm những điều liên quan đến lịch sử (chữ dùng nghe “to chuyện” quá!) mà tôi nghĩ là rất nhiều người đọc trong chúng ta hết mực quan tâm. Kính. -TTTín

  5. BPT

    Thỉnh thoảng vẫn quay lại xem trang này, nhưng không thấy có gì thêm sau bài viết này.
    Có gì rắc rối cho tác giả khi “động chạm” tới một tên tuổi “lớn” trong văn chương chăng?
    Bỗng dưng nhớ mấy câu Kiều:

    “Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
    Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.
    Huống chi việc cũng việc nhà”

    Vâng, bàn “việc nhà” thì ngại gì quyền lực, lo gì “lời ong tiếng ve …”

    • editor

      Cám ơn anh BPT đã đặt câu hỏi thuộc loại… “đố vui, để chọc!” 😎

      Xứ Mỹ này có lẽ là nơi “pháp trị” mà tinh thần của câu thành ngữ: “Khôn chẳng qua Lẽ, Khỏe chẳng qua Lời” có thể được thể hiện đúng đắn nhất. Nhất là khi những “Lời” và “Lẽ” đó đặt căn bản trên những điều “nói có sách, mách có chứng.”

      Ngạn ngữ Việt Nam có câu “To thuyền; Lớn sóng.” Ở lãnh vực nào cũng vậy: Tên tuổi càng Lớn, càng phải cẩn trọng. Riêng về viết lách, người Việt từ xưa đã cẩn thận căn dặn “Bút sa, gà chết!”

      Ở thời đại Internet này, tác giả nào mà vẫn thích mắt nhắm, mắt mở “phóng bút” theo kiểu “oanh kích tự do” hay “bắn theo linh tính,” thì chẳng mấy chốc “ngọn bút” đó sẽ có lúc “tái hồi Kim Trọng” theo đúng chiêu thức Chém Treo Ngành “phập” trúng ngay chính tác giả đó. Lúc bấy giờ, chỉ còn có nước nằm vắt tay lên trán, ôm đầu, nghiệm lại truyện cổ nước Nam “Bụng làm, dạ chịu. Chớ khá than vãn!”

      Riêng mấy câu Kiều anh trích ra, nghe “sâu thẳm” còn hơn cả truyện Sào Phủ Hứa Do có từ thời ông Bành Tổ còn húi trọc!😂

      Phần tôi, dốt thơ, sợ học Kiều, nhưng rất thích xi nê. Trong các phim đã xem, thấy phim cao bồi (1973), với tài tử chính là Terence Hill và Henry Fonda, có tên (và nội dung) rất thú vị: My Name Is Nobody.

      Thú vị ở chỗ bởi vì đã là “Nobody” cho nên, xin nhại lại câu tiếng Mỹ, đúng thực là: I have nothing to fear any… “Somebody!”

      Như đã ghi trong phần Tự Giới Thiệu, blog Góp Nhặt Cát Đá chủ trương đăng nguyên văn những bài phản luận được viết ra một cách nghiêm chỉnh. Nhưng sẽ không có chỗ cho các thứ “nhiễu.”

      Còn những lúc gần đây không có đăng thêm bài vở gì vì tôi cũng bị “lo ra” vì một số công việc riêng. -TTTín

  6. Hung Dao

    Thưa anh,

    Tôi đã đọc hết bài viết của anh rất hay, nhưng cũng có vài điều lấn cấn trong bài và muốn chia xẽ cùng với anh, Tôi chỉ chú trọng vào phần hai là “Một huyền thoại không thực” mà anh đã viết.

    Tôi không biết anh có đọc hết bài viết “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!” của nhà văn Phan Nhật Nam hay không?, và không biết anh có đọc qua bài viết: “Máu Lửa … Charlie” của Thiếu Tá Đoàn Phương Hải. Bài viết này được trich từ cuốn sách thiếu tá Hải đã viết, tựa đề là “Góc Biển Chân Trời” Bài viết “Máu Lửa … Charlie” tương đối dài, 21 trang. Anh có thể search trên Google sẽ ra bài này.

    Trở lại vấn đề, trong bài viết “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!” Nhà văn PNN có ghi rõ ở phần ba của bài viết là: “(Phần viết sau tổng hợp từ hai trích đoạn: Phan Nhật Nam- Người Ở Lại Charlie, Tên nghe quá lạ/MHĐL, SG, 1972; Đoàn Phương Hải –Máu Lửa Charlie, US, 2015 – Chỉ tập trung phần lớn Thiếu Tá Cố Vấn TĐ11ND. J. Duffy, 1972 – Để so sánh với huy chương 2022).” Không lẽ anh không đọc qua, mà chỉ đọc phần dưới rồi kết luận là nhà văn PNN viết? Đó là câu chuyện của thiếu tá Hải viết và nhà văn PNN trích ra. Không biết vì sơ sót hay cố ý mà anh gán là nhà văn Phan Nhật Nam viết. Thích người này, không thích người kia là lẽ thường tình của con người nhưng chúng ta cũng nên nhận xét công bằng.

    Ông thiếu tá Duffy viết là ông kéo thiếu Hải vô sau khi bị VC bắn trúng chân, nghĩa là thiếu tá Hải sắp sửa rớt ra ngoài thì ông thiếu tá Duffy năm dây đạn kéo vô trong. Trong khi đó trong bài viết “Máu Lửa … Charlie”, thiếu tá Hải kể ông là người cuối cùng lên trực thăng, bị bắn và rớt xuống đất. Tôi xin trích ba đoạn ngắn từ trong bài viết này:

    “Ngay lúc đó, cặp Cobra, trực thăng võ trang mới vào vùng, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi di tản đợt cuối cùng.

    “Trực thăng vừa đáp, tôi lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên.. Trời xanh mây trắng ngang tầm mắt. Tôi đứng lên, nhưng gục xuống ngay vì đạn bắn trúng bàn chân và ống chân bên phái. Tôi tự nghĩ chắc sẽ chết vì vết thương ra hết máu, vì đói, vì khát, vì kiệt sức cho dù địch không bắt được tôi. Khẩu súng Colt và cây M16 còn đầy đạn. Tôi chợt nghĩ đến hồi tháng 6 năm 65, một lần Ðồng Xoài tan nát, tôi đã mất Dũng, thằng bạn thân cùng khóa. Tôi đã thấy Tiểu Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Phó và mấy trăm chiến hữu gục ngã trong trận đánh kinh hãi hồi tôi mới ra trường Võ Bị. Lần đó, với vết thương bể mặt nát tay, tôi vẫn về được sau 5 ngày lê lết, đói khát trong rừng với vết thương đã làm độc.

    “Giờ là tháng 4 năm 72, Charlie rực lửa, tôi đã mất Anh Năm và bao nhiêu chiến hữu còn nằm lại Charlie. Tôi ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là 5 cây số đồi cao vực thẳm, 5 cây số đường rừng và tôi lại đang bị thương ở chân thì làm sao tôi đi được. Tôi có thể sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bày kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương sẽ rữa nát hình hài. Hình ảnh thân yêu vợ con, cha mẹ chập chờn trong trí óc. Thằng bé mới sinh chỉ gặp mặt đôi lần.. Còn phép lạ nào sẽ đến với tôi?! Sau 7 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, sao giờ này tôi lại trúng đạn từ trực thăng rớt xuống. Chỉ chậm một giây nữa là tôi sẽ bay về vùng trời êm ấm…

    “Tiếng trực thăng trên đầu làm tôi vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Tôi giơ cao tay, miệng hét lớn. Tôi không thể tin, mồm tôi há to, mắt mở lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giơ hai tay nắm chặt giây đạn và một tay tôi, rồi kéo mạnh tôi lên. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên rồi bay thẳng, máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt tôi và Duffy. Mễ kéo tôi vào giữa thân tàu khi nửa người tôi và hai chân còn đong đưa ngoài không khí. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực anh xạ thủ đại liên.

    Hãy bỏ qua nhà văn PNN vì ông chỉ viết lại những gì thiếu tá Đoàn Phương Hải kể. Ông Duufy kể là thiếu tá Hải sắp rớt ra ngoài nên ộng chụp lại kịp và kéo vô trong. Trong khi đó thiếu tá Hải kể là : “một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên..” Thế thì chúng ta tin ai? Duffy hay thiếu tá Hải. Cá nhân tôi, tôi tin thiếu tá Hải hơn là thiếu tá Duffy vì thiếu tá Hải là nhân vật chính bị bắn, chân bị thương và nghĩ chuyện phải lội rừng về Tân Cảnh cách năm cây số, và nghĩ đến cái chết vì bị mất máu, mất sức giữa rừng. Một chuyện sống chết xảy ra cho bản thân mình thì làm sao mà quên được, huống chi thiếu tá Hải trong cảnh ngộ này. Một lúc sau thì trực thăng trở lại và thiếu tá Duffy kéo thiếu tá Hải lên. Thiếu ta Duffy nói sai có lẽ chuyện đã xảy ra lâu quá nên có thể quên chi tiết này. Chỉ một việc cho trực thăng trở lại để vớt thiếu tá Hải là một việc phi thường rồi, không cần bàn cãi. Đó là một huyền thoại có thực chứ không phải không thực mà anh đã nói ở trên vì nó đã xảy ra cho chính bản thân thiếu tá Hải chứ không phải thiếu tá Duffy.

    Tôi viết là thiếu tá Hải nhưng cấp bậc lúc đó chỉ là đại uý ban 3, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn 11 Dù. Sau này mới thăng cấp thiếu tá.

    Chào anh.

    • editor

      Thưa ông Hung Dao,

      Trước nhất, tôi xin được cảm tạ ông đã bỏ công ghi xuống một comment dài về một số điều cần được làm sáng tỏ thêm. Thứ đến, tôi cũng xin tạ lỗi là đã không trả lời được sớm hơn, như dự định.

      Dưới đây, tôi xin được trả lời các góp ý của ông trong hai phần:
          ▸ Ai trách nhiệm viết bài “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!”?
          ▸ Tin vào Thiếu tá Duffy hay Thiếu tá Đoàn Phương Hải?

      I: Ai trách nhiệm viết bài “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!”?

      Trong phần comment, ông Hung Dao đã ghi:

      > Không lẽ anh không đọc qua, mà chỉ đọc phần dưới rồi kết luận là nhà văn PNN viết? Đó là câu chuyện của thiếu tá Hải viết và nhà văn PNN trích ra. Không biết vì sơ sót hay cố ý mà anh gán là nhà văn Phan Nhật Nam viết. Thích người này, không thích người kia là lẽ thường tình của con người nhưng chúng ta cũng nên nhận xét công bằng.

      Thưa ông Hung Dao, về trách nhiệm việc viết bài, xin thưa với ông rằng, chỉ trừ trường hợp được “chuyển tiếp” (forward) nguyên văn, hay “sao y bản chính,” còn ngoại ra trách nhiệm viết bài phải nằm nơi tác giả bài viết. Xin được trình ra vài trường hợp điển hình:

          1/ Trường hợp bài viết có những đoạn trích dẫn nguyên văn lấy từ bài khác (được để trong ngoặc kép, với chú thích), thì tác giả của bài viết cũng phải chịu trách nhiệm. Nếu phần trích dẫn Đúng / Hay, thì được khen ngợi. Mà Sai / Kém thì phải nhận chịu chê trách.

          Sự việc này không phải chỉ áp dụng cho giới cầm bút, hay giới truyền thông, vốn có ảnh hưởng sâu rộng đến quần chúng; mà trong giới học thuật, hay ngay cả giới sinh viên thì cũng vậy. Trong một quyển sách hay bài viết nghiên cứu, sưu khảo của các vị giáo sư, chuyên gia, nghiên cứu gia, hoặc luận án, luận trình hay phúc trình của sinh viên, nếu sử dụng những trích dẫn sai lạc, thì tác giả của những sách, những bài viết đó sẽ bị quy trách nhiệm và bị chỉ trích. Vì sự việc đó chứng tỏ là tác giả đã làm việc cẩu thả, thiếu trách nhiệm, hoặc không đủ khả năng thẩm định giá trị của các phần họ trích dẫn.

          2/ Trường hợp viết “tổng hợp” của nhà văn Phan Nhật Nam — như ghi chú trong bài Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!: “(Phần viết sau tổng hợp từ hai trích đoạn: Phan Nhật Nam- Người Ở Lại Charlie, Tên nghe quá lạ/MHĐL, SG, 1972; Đoàn Phương Hải –Máu Lửa Charlie, US, 2015 – Chỉ tập trung phần lớn Thiếu Tá Cố Vấn TĐ11ND. J. Duffy, 1972 – Để so sánh với huy chương 2022).” — thì trách nhiệm viết bài của tác giả bài viết lại càng nhiều hơn nữa.

          Hiểu theo nghĩa đen, và nói một cách nôm na, thì viết “tổng hợp” gồm nhiều giai đoạn: Đầu tiên là thẩm định giá trị của những phần trong bài văn có nguồn gốc từ nơi khác; tiếp đó đem các phần đã được thẩm định tốt nói trên “nhập cư” vào bài mới; rồi thêm “mắm, muối, gia vị” và cuối cùng là “xào nấu lại” (= diễn dịch, liên kết lại) để thành bài viết “tổng hợp.”

          Người làm việc “tổng hợp” là tác nhân chủ động, với đầy đủ ý thức và chủ đích rõ rệt, từ thẩm định giá trị văn chương, đến cho “nhập cư,” rồi sắp xếp, hiệu chỉnh các phần văn chương mới “định cư” để “đồng hoá” và kết hợp chúng sao cho mạch lạc và có ý nghĩa trong bài viết của mình. Do vậy, người đó bắt buộc phải chịu trách nhiệm về việc viết bài “tổng hợp.”

          Nhà văn Phan Nhật Nam là người “tổng hợp” hai bài viết khác nhau để thành bài “Mặt sau tấm huy chương gắn trễ!”. Do vậy, trách nhiệm viết bài trên phải ở nơi ông.

          3/ Cũng cần lưu ý là khi bài viết có nội dung hoặc ngay cả chữ dùng có nhiều chỗ giống như bài viết khác, thì bài viết đó có thể bị xếp loại là “đạo văn” (plagiarism). Mặt khác, viết theo dạng thức “sưu tầm” hay “tổng hợp” thì tránh được việc bị xem là đạo văn. Nhưng ngược lại, trách nhiệm về các bài viết loại “sưu tầm” hay “tổng hợp” phải nằm nơi tác giả bài viết.

          Tác giả Phan Nhật Nam có tác phẩm xuất bản từ năm 1969, và thành danh đã hơn 50 năm. Với chiều dài kinh nghiệm cầm bút như thế, nhà văn Phan Nhật Nam không thể không biết đến những quy ước căn bản, đã có từ lâu trong việc viết lách.

      Bên trên là các trình bày theo sự hiểu biết thông thường của tôi, và có lẽ cũng là của không ít người đọc hay người viết khác. Về phần này, tôi sẽ không bàn thêm nữa vì thiết nghĩ như vậy đã khá rõ.

      II: Tin vào Thiếu tá Duffy hay Thiếu tá Đoàn Phương Hải?

      Trong phần comment, ông Hung Dao có ghi:

      > Hãy bỏ qua nhà văn PNN vì ông chỉ viết lại những gì thiếu tá Đoàn Phương Hải kể. Ông Duufy kể là thiếu tá Hải sắp rớt ra ngoài nên ộng chụp lại kịp và kéo vô trong. Trong khi đó thiếu tá Hải kể là : “một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên..” Thế thì chúng ta tin ai? Duffy hay thiếu tá Hải. Cá nhân tôi, tôi tin thiếu tá Hải hơn là thiếu tá Duffy vì thiếu tá Hải là nhân vật chính bị bắn, chân bị thương và nghĩ chuyện phải lội rừng về Tân Cảnh cách năm cây số, và nghĩ đến cái chết vì bị mất máu, mất sức giữa rừng. Một chuyện sống chết xảy ra cho bản thân mình thì làm sao mà quên được, huống chi thiếu tá Hải trong cảnh ngộ này. Một lúc sau thì trực thăng trở lại và thiếu tá Duffy kéo thiếu tá Hải lên. Thiếu ta Duffy nói sai có lẽ chuyện đã xảy ra lâu quá nên có thể quên chi tiết này.

      Phần comment trên cho thấy là ông Hung Dao đã không đọc hết bài viết “Dị Biệt Nơi Phan Nhật Nam Và John Duffy Về Trận Charlie, 1972.” Hoặc đã đọc xong hết nhưng ông đã không để ý đến phần tôi viết liên quan đến câu hỏi của ông: “Thế thì chúng ta tin ai? Duffy hay thiếu tá Hải.”

      Bởi vì nơi cuối phần II của bài viết trên, tôi đã ghi rất rõ ràng:

      > Ở đây câu hỏi sẽ phải đặt ra là: Giữa văn Phan Nhật Nam và thơ John Duffy, đâu là sự thực của những giây phút sau cùng trong cuộc rút lui đẫm máu ra khỏi căn cứ Charlie?

      Nhằm để phối kiểm (crosscheck) những gì ông Duffy ghi về những giây phút sau cùng trong cuộc rút lui đẫm máu này, tôi đã dành ra hẳn một phần riêng với tựa đề “Nhân Chứng Có Tham Dự Trận Charlie”.

      Phần này trích dẫn chứng từ của Trung tá Peter Kama (sĩ quan chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tá Duffy), Trung tá Lê Văn Mễ (Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù, sĩ quan chỉ huy trực tiếp của Thiếu tá Đoàn Phương Hải) và Thiếu tá Đoàn Phương Hải. Các lời khai này trích từ Witness hoặc Eyewitness Statements cho việc điều tra và cứu xét việc trao tặng Medal of Honor cho Thiếu tá John Duffy.

      Cũng nên biết là: Ngày 7/7/1998, Đại tướng Frederick C. Weyand, Tư lệnh cuối cùng của Quân đội Mỹ tại Việt Nam, từ 1972 đến 1973, gửi thư lên Thượng nghị sĩ Daniel Inouye, Hawaii yêu cầu ông Inouye đề nghị việc ân thưởng Medal Of Honor cho Thiếu tá John Duffy và sau đó Thượng nghị sĩ Inouye đã chuyển hồ sơ sang Bộ Lục quân Hoa Kỳ. Ngày 5/7/2022, có quyết định trao thưởng Medal Of Honor cho Thiếu tá John Duffy. Tổng cộng thời gian xét duyệt tính ra chỉ kém hai (02) ngày là đủ 24 năm.

      Riêng chứng từ của Thiếu tá Đoàn Phương Hải, xin ghi lại một phần lời khai của ông được dịch sang Việt ngữ và phần nguyên bản Anh ngữ, với những phần cần lưu ý kỹ được tô đậm:

      Chứng Từ Chứng kiến Tận mắt (trích): … Hỏa lực của Bắc quân cực kỳ dữ dội và rất chính xác. Sau khi lên máy bay, tôi bị bắn vào bàn chân phải. Tôi ngã và thân thể tôi dường như đang treo trong không khi tôi rơi theo hướng xuống mặt đất. Thiếu Tá Duffy (đang đứng trên càng của máy bay trực thăng điều động các cuộc không kích), nắm lấy dây đai đeo đạn của tôi khi tôi rơi ngang qua ông ta và kéo tôi vào bên trong trực thăng. Chiếc máy bay đến cứu bị mất kiểm soát trong chốc lát sau khi bị trúng đạn phòng không trong khi chúng tôi đang bay vút ra ngoài. …

      Eyewitness Statement (excerpt): … The NVA fire was extremely heavy and very accurate. After boarding the ship, I was shot in the right foot. I fell and my body seemed to be hanging in the air as I fell towards the ground. Major Duffy (who was standing on the skid of the helicopter directing air strikes), grabbed my cartridge belt as I fell past him and pull me into the helicopter. The rescue ship temporarily lost control after being hit by anti-aircraft fire as we were pulling out. …

      Tuy nhiên, cũng cùng một sự việc như ghi bên trên — nhưng lại có những khác biệt rõ rệt trong những chi tiết quan trọng — đã được ông Hung Dao ghi lại nơi phần trích dẫn từ bài viết “Máu Lửa Charlie” trong quyển “Góc Biển Chân Trời” của nhà văn Đoàn Phương Hải:

          ● “Trực thăng vừa đáp, tôi lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, tôi trúng đạn ở chân phải và rớt từ trực thăng xuống đất. Tôi hét lên và chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên.. Trời xanh mây trắng ngang tầm mắt. Tôi đứng lên, nhưng gục xuống ngay vì đạn bắn trúng bàn chân và ống chân bên phái. …”
          ● “Tiếng trực thăng trên đầu làm tôi vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Tôi giơ cao tay, miệng hét lớn. Tôi không thể tin, mồm tôi há to, mắt mở lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giơ hai tay nắm chặt giây đạn và một tay tôi, rồi kéo mạnh tôi lên. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu….”

      Khi so sánh những phần được tô đậm trích ra từ quyển “Góc Biển Chân Trời” và những phần được tô đậm trích ra từ chứng từ của một nhân chứng mắt thấy tai nghe (eyewitness) trong trận Charlie, thì thấy rằng không như ông tác giả Nhà văn Đoàn Phương Hải, nhân chứng Thiếu tá Đoàn Phương Hải đã hoàn toàn KHÔNG VIẾT gì hết đến việc Đại úy (vào lúc đó) Đoàn Phương Hải bị “rớt từ trực thăng xuống đất.” Rồi “đứng lên, nhưng gục xuống ngay…”. Sau đó “vụt đứng lên bằng bàn chân trái.” Cuối cùng “Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giơ hai tay nắm chặt giây đạn và một tay tôi, rồi kéo mạnh tôi lên.”

      Đến đây, rõ ràng là có nhiều khác biệt đáng phải chú ý nơi một số chi tiết quan trọng trong hai “phiên bản” khác nhau, tường thuật về cùng một sự việc có tính cách “sinh tử” đã xảy đến cho bản thân của tác giả hai phiên bản tường thuật trên.

      Do vậy, vấn đề ở đây không còn ở chỗ tin hay không tin vào hai nhân vật khác nhau như ông Hung Dao đã đặt câu hỏi: “Thế thì chúng ta tin ai? Duffy hay thiếu tá Hải.”

      Mà câu hỏi đúng đắn nhất sẽ phải đặt ra cho chỉ một nhân vật là:

      “Thế thì chúng ta tin ai? Tin vào Thiếu tá Đoàn Phương Hải hay Nhà văn Đoàn Phương Hải?”

      Cá nhân tôi, tôi tin vào lời khai của nhân chứng Thiếu tá Đoàn Phương Hải. Nhất là cạnh đó là lời khai của 2 nhân chứng khác đều là sĩ quan cấp trưởng: Trung tá Lê Văn Mễ và Trung tá Peter Kama.

      Đặc biệt là còn phải kể đến sự điều tra kỹ lưỡng của Bộ Lục quân Hoa Kỳ về tất cả mọi sự vụ mà Thiếu tá Duffy có can dự trong trận Charlie, 1972. Cuộc điều tra này đã diễn ra trong khoảng thời gian rất dài — chỉ kém hai (02) ngày là được đủ 24 năm.

      Còn đối với những lời văn đầy cảm xúc, anh hùng tính của một ông nhà văn viết theo dạng “hồi ký” hay “tự thuật” để mô tả chính bản thân của ông, và những mô tả hào hùng đầy xúc cảm đó không thể được kiểm chứng hay phối kiểm với những nguồn tin có thẩm quyền và đáng tin cậy khác, thì mức độ khả tín của những văn chương loại này, nhiều nhất, chỉ có thể là những câu hỏi to tướng. Nếu không muốn nói đó là những gì vẫn thường thấy nhan nhản trong các “tác phẩm” tự biên, tự diễn và được vẽ vời với toàn những điều “hư cấu.”

      Về điều ông Hung Dao ghi:

      > Đó là một huyền thoại có thực chứ không phải không thực mà anh đã nói ở trên vì nó đã xảy ra cho chính bản thân thiếu tá Hải chứ không phải thiếu tá Duffy.

      Sau khi đọc lại lời khai của ba chứng nhân trên, đặc biệt nhất là lời khai của Thiếu tá Đoàn Phương Hải, thì tôi bắt buộc phải viết xuống là: Điều mà ông Hung Dao ghi là “huyền thoại có thực” ― chỉ hiện hữu trong tác phẩm của Nhà văn Đoàn Phương Hải ― thực chất chi có thể là “huyền thoại của chế biến” hay “huyền thoại của ngụy tạo.”

      Mà nói đến Huyền Thoại Có Thực là phải nói đến sự thực khốc liệt và kinh hoàng của sự chiến đấu dũng mãnh và hy sinh xương máu của toàn bộ các chiến binh Tiểu Đoàn 11 Dù, trong trận Charlie, 1972.

      Cũng cần phải xác định là không riêng gì đối với riêng cá nhân của tác giả hay tác phẩm nào đó, mà tất cả những gì thuộc loại “huyền thoại của chế biến” hay “huyền thoại của ngụy tạo” đều cần phải được đưa ra trước công luận để mọi người có thể nhận diện được rõ ràng.

      Riêng về Huyền Thoại Có Thực, với lòng ngưỡng mộ và trân trọng khôn cùng trước sự chiến đấu dũng cảm và mất mát to lớn của Tiểu Đoàn 11 Dù trong trận Charlie, 1972, và trong khả năng có thể có của mình, tôi đã cố gắng bày tỏ sự vinh danh các vị chiến binh này qua bài viết “Người Khinh Binh Cuối Cùng Tại Căn Cứ Hỏa Lực Charlie”.

      Một lần nữa, tôi xin được cảm tạ ông Hung Dao đã có góp ý. Thực sự là như vậy vì qua đó tôi có được cơ hội để trình bày thêm một số chi tiết quan trọng. Kính. -Trần Trung Tín

  7. Bùi Phạm Thành

    Tính đến hôm nay là đã hơn hai năm rưỡI rồi, kể từ khi được đọc bài này, tháng Ba năm 2023. Hôm nay, đã là cuối tháng Mười Một, năm 2025. Vậy mà cũng có một lời bàn rất mới, đủ thấy sự quan trọng của bài viết.

    Trong lần góp ý trước, tôi có “lẩy Kiều” gợi ý “Huống chi việc cũng việc nhà” bởi vì một số người có liên quan hay được nhắc đến tên trong bài đều là “người nhà”, hay đúng ra là con cùng “Trường Mẹ – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, kể cả người viết và người tham chiến, trừ ông Duffy. Tôi dùng hai chữ “người nhà” vì trước khi đọc bài viết của anh TTT, tôi đã kể lại bằng thơ, nguyên văn, quyển thơ của Thiếu tá Duffy về trận chiến trên đồi Charlie, chỉ bỏ qua bài thơ nói về PNN vì thấy rằng chẳng dính dáng dì đến trận chiến này cả (https://drive.google.com/file/d/18aDSXl2eDFNjlJFWhJmaXu92LZkGvboC/view?usp=sharing)
    và Trận tái chiếm cổ thành Quảng trị, nguyên văn, của Thiếu tá Trương Đăng Sỹ (https://drive.google.com/file/d/1_aZtsTQZzryk7HPxaup4_sKLwccIs50F/view?usp=sharing).

    Quý vị, nếu cao hứng, có thể download hoặc xem qua cho biết.

    Sau khi quyển thơ kể chuyện Trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị được “ra mắt” thì tôi bị “nhà văn lớn”, và cũng là đàn anh, mắng là nhố nhăng, không ra gì … tuy rằng tôi có kèm theo bài viết của Niên Trưởng Trương Đăng Sỹ để đọc giả thẩm xét. Khi ấy thì có một vị Niên Trưởng đã khuyên tôi “cho qua đi” vì đều là anh em trong nhà cả, không nên tranh luận, cãi nhau … vì làm như thế là “vạch áo cho người xem lưng”, vì “ông ấy” là “đại văn sĩ” còn tôi, không những là “tay ngang” mà còn là đàn em, khoá sau, của ông ấy. Cũng như cụ Tản Đà xưa đã viết:

    “Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ
    Trình có quan trên, thứ chỉ tôi.”

    Thế cho nên tôi cũng giữ tiếng. Sau đó chẳng bao lâu thì đọc được bài viết của anh TTT, và vẫn còn “dư âm” mãi đến bây giờ.

    Chuyện đã qua hơn nửa đời người, thực/hư khó biết. Thôi thì nên đọc để biết nhiều khía cạnh của cùng một câu chuyện. Vì chuyện đời lúc nào cũng thế. Chuyện đọc trên tiểu thuyết luôn hay hơn chuyện được nghe qua lời kể chuyện của ông bà.

    Anh TTT có nói đến việc thích phim ảnh hơn thơ, ngược với tôi, vậy thì nên xem phim ảnh loại “Rambo” hơn là nghe chuyện chiến trường của người đã thực sự tham chiến kể lại. Có lẽ vì thế mà các ông “Đại Gia Chi Thuyết – Đại Thuyết Gia” như Khổng, Mạnh, Lão … đều thua xa các ông “Tiểu Gia Chi Thuyết – Tiểu Thuyết Gia” như Thị Nại Am (viết truyện Thuỷ Hử), La Quán Trung (viết Tam Quốc Diễn Nghĩa), hay Ngô Thừa Ân (viết Tây Du Ký) hoặc ngay cả ông Kim Dung viết truyện kiếm hiệp ở thế kỷ 20 vừa qua …

    Đôi lời góp ý sau khi đọc lại bài viết của anh TTT.

    (Xin mãi được dùng hai chữ “Niên Trưởng” này để gọi người đàn anh, vì với chúng tôi, hai chữ “Niên Trưởng” quan trọng gấp ngàn lần cái lon trên vai.)

  8. Tina Nguyen

    Sau khi đọc kỹ comment của ông Hung Dao và bài phản hồi của tác giả , cá nhân tôi học hỏi thêm được nhiều điều. Xin cám ơn tác giả Trần Trung Tín đã cất công truy tìm những dữ kiện/tài liệu chính xác để làm nền tảng cho bài viết cũng như cho phản hồi của mình. Tôi rất đồng tình với tác giả khi đề cập tới trách nhiệm của một người cầm bút, khi dựa theo tài liệu của một ai đó để làm luận điểm cho bài viết của mình. Tôi cũng rất thích thú khi tác giả đưa ra câu hỏi : “Thế thì chúng ta tin ai? Nhà văn Đoàn Phương Hải hay Thiếu Tá Đoàn Phương Hải? ” Câu hỏi này, theo tôi, đã đủ để làm sáng tỏ vấn đề.

    Tôi cũng xin cám ơn comment của độc giả Hung Dao, với nhiều chi tiết liên quan, Nhờ đó tôi được học hỏi thêm. Tuy nhiên, khi đọc đến câu ” Không biết vì sơ ý hay vì cố ý mà anh gán là NV Phan Nhật Nam viết. Thích người này, không thích người kia là lẽ thường tình của con người, nhưng chúng ta cũng nên nhận xét công bình” tôi đã khựng lại, như đang xem một ông trọng tài đứng trên võ đài, khi 2 võ sĩ chưa kịp ra sàn mà ông ta đã tuyên bố ai là người thắng rồi! Hơi tiếc!
    Xin có vài lời thô thiển.

    • editor

      Xin cảm tạ Cô/Bà Tina Nguyen đã góp ý.

      Đọc xong comment của Cô/Bà Tina Nguyen:

      > khi 2 võ sĩ chưa kịp ra sàn mà ông ta đã tuyên bố ai là người thắng rồi!

      tự nhiên cái “máu hài” cho tôi cảm nghĩ là nhận xét trên rất đúng.

      Vì bản thân tôi hiện giờ thì chân tay đều yếu kém, run rẩy hết cả, “xuống tấn” thường cũng không nổi. Mà cũng không phải là cựu/võ sĩ, cho nên “chưa kịp ra sàn” là đã có nhiều cơ hội bị … “đo sàn” rồi!

      Đó là chuyện rất “easy,” ai cũng có thể đoán được. Cái case này của tôi người Mỹ hay gọi là ‘underdog’. 😀 Thân kính. -Trần Trung Tín

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *