In honor of the forever unforgotten souls who suffered through the Vietnam War — and to my daughter, Trần Thy Patricia.
May this story, drawn from my life, illuminate the blessings around us and inspire gratitude.
April 2025 — Fifty years after the fall of Saigon
-Trần Trung Tín
The Unfinished Art
In the 1960s, a Vietnamese student was sent by his family to France to study architecture. After a year of dedicated study, he realized that his true passion lay not in architecture—but in painting.
He knew all too well that if he wanted to pursue a subject his father disapproved of, he would have to do it on his own. His best option was to apply to an art school that offered full scholarships.
To be admitted, he needed to submit an application and pass the entrance exam.
That year, the exam was a nude drawing, with a young model posed artfully in the flower garden behind the school.
When the time came, candidates found a suitable corner, set up their easels and began their work. Attentive. Focused. Passionate. Drawing.
Time passed slowly. Eventually, it was over.
When he submitted his drawing, the Vietnamese candidate had only completed something that still seemed unfinished.
Not a single line in it suggested nudity.
But dominating the entire canvas were the model’s eyes—her gaze captured in strokes that words could hardly describe.
Back at the dormitory, when a friend asked how the exam had gone, the student answered curtly, as if his soul had been hypnotized by the very eyes he had just drawn.
Despite submitting a painting completely off-topic, when the results came out, his name was on the list of those admitted to the school.
Years later, after a life of wandering the streets of Paris, he became one of the painters whose works were cherished by the city’s art lovers.
The Struggle
In the early 1970s, when I first heard the story about this art student, I was still in high school in Vietnam. I couldn’t help but scoff:
“That’s bull! Big mouth. You wanna talk big? Fine! Just don’t blow it out of proportion!”
And so, life at school just drifted by…
After graduating in 1974, I enlisted in the South Vietnamese armed forces.
Then came April 30, 1975 — the day Saigon fell to the North Vietnamese communists. It was also the day that marked the beginning of a long, dark descent for those of us who had once worn the uniform of South Vietnam: persecuted under repression, living in fear, and enduring the quiet agony of survival under a regime that saw us not merely as enemies — but worse, as traitors.
A couple of years later, I was imprisoned after a failed attempt to flee Vietnam on foot — shattering all hopes of reaching Thailand. After my release — secured through a bribery payoff — I had to live for years in hiding as a fugitive, right in the very place where I had been born and raised. During that time, I lived like a hunted man. Just a stroke of bad luck could have landed me back in a ‘re-education’ camp at any moment. The constant, haunting feeling of despair in total entrapment made me want to end my life more than once.
Then came a life-changing moment. In November 1981, I managed to escape by boat. After four nightmarish days adrift in the unforgiving open sea aboard a tiny 10-meter (approximately 33-foot) wooden fishing boat, we—75 so-called “boat people,” including women, the elderly and young children—were rescued by an oil tanker. The crew later transferred us to a refugee camp in Indonesia under UNHCR’s care.
Eventually, in November 1982, my journey as a refugee brought me to America—a new beginning, after so many endings.
Looking back, I realize that at certain life-threatening moments—especially when I was running for my life—I became numb, unable to feel, let alone explain, what was happening around me. At those junctures, my most trusted companion—my memory—quietly gathered and sealed away the images that suffocated me.
Much later, when memories returned and brought me back to those chaotic days, I thought again of the art student in France. And I realize how recklessly I had spoken back then:
“That’s bull! Big mouth. You wanna talk big? Fine! Just don’t blow it out of proportion!”
The Peace amid Death
Let me take you back again—to April 1975. My unit was retreating from the Central Highlands to the South. As our convoy rushed past Phan Rang, I suddenly caught a glimpse of a weary, ragged man sitting motionless beside a cow, in front of a rickety thatched house along the road.
In the blink of an eye, the house was behind us, but in that same instant, I caught a pair of eyes — two beings, yet strangely the same. The man. The cow.
My God—how could their gazes look so much alike?
The cow… lying beside the man. Slowly chewing its cud. Sluggishly watching the world. Motionless. Indifferent.
That gaze seemed completely immune to tragedy—to death unfolding all around.
The explosions, no matter how close, could no longer shake him. The stench of burning homes couldn’t pierce him anymore. In that split second, he looked like a man removed from the world — a soul suspended in stillness.
Could it be that fear—excessive, paralyzing fear—had transcended the man? Had it lifted him to the point of enlightenment, rising above the inevitability of life and death, above the suffering of life itself?
Or had it dragged him downward—into a pit of inferiority so deep that he became equal to an animal, like the cow? Able only to see life through a blind, primal lens of instinct, no longer able to tell life from death.
In that suspended instant, I felt as though I were no longer just a soldier passing by. but a painter, compelled to seize the scene before it vanished. What struck me was not the man nor the cow in themselves, but their gazes — vacant, indifferent, mirroring one another — as though drawn into the same pair of eyes. A pair of eyes that seemed to belong to neither man nor beast alone, but to some shared realm beyond fear, beyond hope.
Isn’t it true that the painter’s calling is to look without turning away, and to preserve what cannot be spoken — even the silence hidden inside a pair of eyes? A silence at once precious and terrifying, at peace… amid death.
The Full Cycle
Much later in life, when the old story started to crawl back, I saw it differently. I felt I was finally beginning to understand why that student passed the entrance exam—despite being off-topic.
The requirement was a nude painting. But when the jury looked at his canvas, all they saw were the model’s eyes. And still—they accepted him.
Perhaps, just perhaps, he had captured something far more powerful than the aesthetic of the model’s body. Maybe, in that unfinished gaze, the jury saw a reflection of something deeper: a mind torn in polarized conflict—between burning temptation and pure devotion to art. A stare filled with pensive tension—between liberation and suppression, determination and contradiction, vulnerability and strength.
It reminded me of the man by the roadside—with his eyes buried in both awakening and madness. The same gaze, stripped of expression, as the world collapsed around him. Beside him, the cow still lay quietly. Slowly chewing its cud. Indifferent. Watching life completely fall apart.
Trần Trung Tín is a Vietnamese American. He was a member of the South Vietnamese Armed Forces. He fled Vietnam in 1981 as part of the “boat people” exodus and arrived in the U.S. in 1982. His writing reflects the memory of war, loss, and resilience.
Invitation:
- We invite you to read the original Vietnamese story: Đôi Mắt
Anh Tín,
Sáng nay tôi mở email của anh và đa đọc được bài viết “Đôi Mắt” bằng Anh ngữ của anh. Tôi tin tưởng giới trẻ VN hải ngoại sẽ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của đất nước VN trước và sau ngày VNCH của chúng ta bị trói tay. G. London
Cám ơn anh G. London. Theo tôi biết, hiện giờ cũng có một số bạn trẻ sinh ra sau 1975 và lớn lên tại Việt Nam, vẫn cố công tìm hiểu thêm về Việt Nam Cộng Hoà. Họ tổ chức được những sinh hoạt truyền thông báo chí qua Internet, social media, với trụ sở chính đặt bên ngoài Việt Nam. Và cũng có chủ trương thu thập tìm hiểu thêm về những gì đã xảy ra tại miền Nam, đặc biệt là thời gian sau 30/4/1975, ở những khía cạnh mà trước đây họ hoàn toàn không được biết đến.
Còn giới trẻ VN tại hải ngoại thì đa số không giỏi tiếng Việt. Cho nên cũng bị trở ngại trong việc tìm hiểu trong cố gắng “về nguồn” của họ. Hy vọng càng ngày càng sẽ có thêm nhiều sách vở, báo chí song ngữ Anh-Việt, Pháp-Việt để giúp các thế hệ đi sau này có điều kiện thêm trong việc tìm hiểu. -TTTín
Bản dịch “Pair of eyes” thật giàu cảm xúc, qua nhiều cặp mắt, mắt người thường dân, mắt bò, mắt cô gái người mẫu và mắt anh hoạ sĩ.
Qua hình ảnh đôi mắt, với cảm nhận về đời sống đã qua lâu rồi, tác giả cũng còn “nhìn” thấy được nỗi đau quanh đời và sự vươn lên.
Đặc biệt, bản dịch tiếng Anh có thêm nhiều chi tiết so với nguyên tác tiếng Việt, đem lại thêm nhiều chi tiết làm cho tác phẩm trở nên phong phú hơn.
Xin cảm ơn dịch giả đã mang đến một bản dịch vừa hay, vừa giá trị.
Cám ơn anh vanpho,
Có những sự vụ mà chỉ chứng kiến một lần trong đời, mình cũng sẽ không bao giờ quên. Và cũng có những ám ảnh mà chỉ “gặp” một lần, dù sau mấy mươi năm, thì cũng luôn ăn sâu vào ký ức của mình. Chừng nào mà mình vẫn còn nhớ. Memory can be our worst enemy.
Cũng muốn cám ơn anh đã lịch sự nhắc khéo (mà không khiển trách) trong bản Anh ngữ, có nhiều chỗ không có trong nguyên bản Việt ngữ. Đúng ra người dịch phải theo sát ý của tác giả trong nguyên bản. Có điều ở đây người dịch và tác giả cùng là một người, cho nên không phải ngại việc không theo đúng ý tác giả.
Còn bản dịch Anh ngữ phải “khai triển” thêm một số điều thì cũng rất giản dị: Độc giả nói tiếng Anh, như các thế hệ gốc Việt lớn lên tại hải ngoại, đa số không biết về những gì đã xảy ra tại Việt Nam vào cả 50 năm trước. Để cho họ hiểu được câu chuyện, cũng cần phải giới thiệu hay giải thích để họ biết những điều căn bản của sự việc.
Với độc giả người Việt, có thể cho đến chừng 2-30 năm nữa, gần như ai cũng biết ngày 30/4/1975 là ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay cộng sản miền Bắc. Nhưng với độc giả không nói tiếng Việt thì đại đa số không có chút khái niệm gì về ngày này. Cũng như họ không làm sao biết được tại sao ngày đó lại là bắt đầu của những ngày dài đen tối nhất cho những người đã có thời phục vụ trong quân đội hay chính quyền miền Nam trước đó. Cho nên cần có chút giải thích trong bản Anh ngữ là vậy.
Tôi còn nhớ lúc mới đến Mỹ, đi học ESL (English as a Second Language). Trong bài luận nói về nước mình, tôi viết câu mở đầu, đại khái: My country is beautiful. Ông thày đọc đến đó là ngưng không đọc tiếp. Ông trả lại bài và bắt viết lại. Tôi hỏi, thì ông nói ông không hiểu tôi muốn viết cái gì. Tôi trả lời là tôi viết về “my country.” Ông hỏi lại: What country? Khi đó, tôi “tỉnh hồn”. Ông dạy thêm cho bài học: Đừng cho rằng (assume) người đọc lúc nào cũng biết đến điều mình nói. Nên phải viết lại là: My country, Việt Nam, is beautiful.
Chỉ lần đó thôi là nhớ hoài. Ông còn giảng thêm là phải giải thích sao cho ngắn gọn và đủ nghĩa.
Thực ra cách viết này rất hay. Chẳng hạn ở vào hai, ba thế kỷ sắp tới, người Việt sẽ khá mù mờ về chuyện VN ngày nay. Lúc đó, khi họ đọc bài viết ở vào thời điểm này nói về sự việc cùng thời, thì một lời giải thích ngắn trong bài viết chắc chắn sẽ làm rõ nghĩa hơn rất nhiều.
Có thể tôi sẽ hiệu chỉnh lại bản tiếng Việt và bổ sung thêm một số điều mà bản tiếng Việt hiện thời dựa theo sự đồng cảm của người đọc. Đây là một thiếu sót, đối với người đọc không có hiểu biết về bối cảnh của câu truyện. Cám ơn anh vanpho đã “nhắc nhở.” -TTTín
Of most of his writings before, they are all great pieces as told from his vast knowledge and strong analytical skills. But this story takes the top as it was told from his heart. Great story teller always knows it will capture reader’s heart. Best as always.
Thank you for your kind words. They mean a lot, George.
My hope is that this story reaches a broader audience and resonates with readers, particularly English-speaking ones.
At the same time, with utmost sincerity, I hope it gives voice to those who witnessed and experienced the same, but were never able to tell their own stories. -TTTín