Trần Trung Tín
Vào dịp Tết hàng năm, bánh chưng gần như không thể thiếu trong các gia đình người Việt. Và cũng gần như mọi người đều biết đến sự tích bánh giầy, bánh chưng1, với Lang Liêu dâng bánh giầy, bánh chưng lên Vua cha là Hùng Vương thứ sáu (1712 – 1632 trước Tây lịch – TTL) vào dịp Tết, khoảng 3600 năm trước.
Nhằm mục đích tìm hiểu thêm về sự tích bánh giầy, bánh chưng đã được lưu truyền từ nhiều ngàn năm, chúng tôi xin mạn phép góp thêm một cái nhìn mới, chú trọng vào tính cách lịch sử và xã hội thời bấy giờ của sự tích này.
1. Truyền thuyết hay Sự kiện Lịch sử?
Sự tích Bánh Giầy Bánh Chưng là truyền thuyết (myth), không là sự kiện lịch sử. Đã không có bằng chứng khảo cổ hay văn bản nào xác định được niên đại của sự kiện trên. Cũng không có bằng chứng xác nhận cuộc thi do Vua Hùng Vương thứ 6 đề ra và người con tên Lang Liêu.
Hiện đang ở thế kỷ thứ 21, chúng ta hãy tìm hiểu sự tích bánh giầy, bánh chưng từ một góc độ khác. Hãy không nhận xét và phân tích sự tích này trên tính cách thần thoại. Mà hãy chú trọng khảo sát các biểu tượng liên hệ mật thiết đến sự tiến hoá của xã hội Việt Nam khoảng 3600 năm trước, vào thời Vua Hùng Vương thứ 6.
Thực ra, điều ghi trên không phải mới lạ. Vì các nhà thần thoại học, nhân chủng học vẫn thường diễn giải các thần thoại cổ đại hay truyền thuyết – trong một khuôn khổ hạn chế – như là:
Những câu chuyện có các biểu tượng (symbolic narratives) thể hiện những chuyển biến sâu đậm về kinh tế và xã hội, hơn là để diễn giải các sự kiện có thực trong thực tế.
Việc sử dụng các biểu tượng là nhằm “đơn giản hoá” những sự kiện phức tạp, qua đó giúp người dân dễ dàng chấp nhận những chuyển đổi sâu rộng có khả năng thay đổi tận gốc lối sống quen thuộc của họ.
2. Nhân tố con người
Như được phản ánh trong truyền thuyết bánh giầy, bánh chưng, sự chuyển đổi xã hội lúc bấy giờ được hình thành và thúc đẩy bởi các tác nhân then chốt.
Các tác nhân này được xếp thành ba nhóm khác nhau căn cứ trên quyền lực và khả năng chi phối hoặc ảnh hưởng đến sự vận hành của quốc gia:
- Giới lãnh đạo: Vua Hùng Vương thứ 6
- Giới quyền thế (establishment): Các vị con lớn của nhà Vua
- Giới đổi mới (innovators): Lang Liêu
Giới lãnh đạo
Vua Hùng Vương thứ 6 toàn quyền trị vì đất nước. Tuy nhiên, nhà vua không chỉ định người con trưởng nam làm kế vị. Mà đưa ra cuộc thử thách các hoàng tử nhằm xác định tài năng lãnh đạo của các vị này để nhà vua có được một quyết định sáng suốt trong việc chọn người kế vị.
Giới quyền thế
Ở vào 3600 năm trước đây, có thể nói là đại đa số các hoàng tử con của Hùng Vương thứ 6 đều ở vào “giai cấp” săn bắn-hái lượm (hunter-gatherer). Vì căn cứ theo các phẩm vật được chính họ tuyển chọn để dâng lên Vua, chỉ toàn thấy những thứ quý hiếm đã săn tìm được từ rừng sâu núi thẳm.
Tài năng của họ được đánh giá trên kinh nghiệm và thành tích săn bắn, đặt bẫy; giết hoặc bẫy được nhiều thú vật, nhất là các loại thú hiếm.
Dù giàu có và quyền thế, giới này vẫn chỉ sở hữu những giá trị của “văn minh ngày hôm qua.” Ghi nhận như thế không hề có ý hạ thấp giá trị của giới quyền thế. Vì thực ra săn bắn-hái lượm là phương cách mưu sinh chính yếu của loài người tính từ thời sơ khai kéo dài đến cả triệu năm.
Ở đây, khái niệm “săn bắn–hái lượm” cùng với “định canh nông nghiệp” (settled agriculture) được sử dụng như những mô hình tượng trưng cho hai thế giới quan và phương thức tổ chức xã hội khác nhau, hơn là các mô tả thuần túy về kinh tế học khảo cổ.
Giới đổi mới
Dù không phải là người đầu tiên phát minh và duy nhất biết canh tác, nhưng Lang Liêu là người đánh giá được sự quan trọng của nông nghiệp trong việc cung ứng thực phẩm nuôi sống người dân. Để phổ thông hóa nông nghiệp thì cách hay nhất là đưa nông nghiệp đến với quần chúng.
Từ gạo nếp, thịt heo, Lang Liêu đã nghĩ cách tạo ra bánh giầy, bánh chưng. Như là một nhịp cầu, một gạch nối liền giữa người dân và lúa gạo, đáp ứng cả nhu cầu thực phẩm và tâm linh cho xã hội Việt lúc bấy giờ.
Khi Lang Liêu chọn bánh giầy và bánh chưng là phẩm vật dâng lên Vua, thì phẩm vật này đã không còn là một “sản phẩm” đang trong vòng “nghiên cứu” hay “thiết kế.” Mà đó là một sản phẩm đã hoàn tất. Rất giản dị và rất thực tế.
Đối với người dân bình thường, thì bánh giầy, bánh chưng là những gì cụ thể và thực tiễn đúng theo tinh thần ‘có thực mới vực được đạo.’ Và sản phẩm này còn nói lên được lòng biết ơn trời đất, tổ tiên và cha mẹ vào dịp Tết.
Một kết hợp xuất sắc như vậy chứng tỏ Lang Liêu là bực thầy của khoa tâm lý quần chúng.
Một khi chinh phục được quần chúng, thì sự thành công trong công cuộc “cách mạng xã hội” toàn diện — hoàn toàn thay đổi lối sống của người dân từ săn bắn-hái lượm sang định canh nông nghiệp — sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.
Điểm then chốt nơi Lang Liêu không nằm ở kỹ thuật canh tác, mà ở khả năng dung hợp con người và chuyển hóa nông nghiệp thành biểu tượng văn hóa và đạo lý có sức thuyết phục toàn xã hội.
3. Tuyển chọn Lãnh Đạo
Nhìn kỹ vào phía sau bức màn thần thoại của sự tích bánh giầy, bánh chưng, thì có thể thấy sự kiện quan trọng hàng đầu lúc bấy giờ là việc Vua Hùng Vương thứ 6 đang tuyển chọn nhà lãnh đạo tương lai cho Việt Nam.
Điểm đặc biệt nổi bật của Vua Hùng Vương thứ 6 là ông chọn người kế vị không theo truyền thống lâu đời là truyền ngôi cho con trai trưởng.
Mà Vua đã đưa ra cuộc thi tuyển để chọn người xứng đáng. Tất cả các hoàng tử, không phân biệt giàu, nghèo, đều có thể bình đẳng tham gia.
Thực ra, mục đích của cuộc thi tài không phải để chọn phẩm vật nào quý báu nhất. Mà là để Vua Hùng chọn nhà lãnh đạo tương lai nào có được:
Một thế giới quan và mô hình kinh tế tiến bộ nhất cho quốc gia.
Thi thố tài năng
Trong cuộc thi tuyển chọn nhân tài, đã cho thấy có 2 loại “kỹ nghệ” liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của người dân Việt lúc bấy giờ:
- Săn bắn-hái lượm: là “kỹ nghệ truyền thống” đã có từ lâu đời và các người con lớn của Vua thành công trong kỹ nghệ này. Mặc dù vẫn còn đang thịnh, kỹ nghệ này đã đạt đến mức “bão hoà.” Và không những khó có thể tăng trưởng mà còn có triển vọng suy thoái nhanh theo đà gia tăng dân số.
- Nông nghiệp: là “kỹ nghệ mới” với “sản phẩm mới” do Lang Liêu chế biến. Kỹ nghệ mới này có nhiều tiềm năng phát triển – nhất là với sự tham gia của mọi người dân. Trong trường kỳ, nông nghiệp sẽ trở thành một nguồn thực phẩm đủ khả năng đáp ứng với sự phát triển dân số Việt vào thời đó.
Ở mặt kỹ nghệ, Vua Hùng Vương thứ 6 đã chọn Nông nghiệp như là một nền tảng mới mẻ và vững chãi để xây dựng một xã hội Việt với lối sống mới. Rồi từ đó sẽ đi vào một kỷ nguyên mới với nhiều ổn định và văn minh tiến bộ.
Vai trò Lãnh đạo
Ở mặt lãnh đạo chỉ huy, Vua Hùng Vương thứ 6 đã chọn Lang Liêu vì ông:
- Hiểu được thấu đáo sự trù phú mà nông nghiệp có thể đem đến.
- Nhận thức rất rõ ràng là để xã hội có thể tiến lên, người dân Việt phải đổi lối sống đang từ săn bắn, du mục sang định canh.
Mặc dù, ban đầu bị lu mờ trước các vị hoàng tử giàu kinh nghiệm, nhưng qua cuộc thi, sau khi chứng tỏ được với Vua tầm nhìn sâu sắc, đầy viễn kiến, thì Lang Liêu xuất sắc nổi bật. Bởi vì:
Tài năng lãnh đạo nằm trong tay người thấu hiểu mấu chốt xã hội đang và sẽ đi về đâu, chứ không phải là đã hay đang đứng ở đâu.
Lang Liêu đã không mang đến dự thi:
- Những thú vật quý hiếm
- Những sơn hào hải vị
- Những phô trương hãnh tiến
Nhưng “phẩm vật” mà ông mang đến dâng lên Vua Hùng Vương là:
- Tinh thần đổi mới và sáng kiến
- Và những gì mà người dân ai cũng có
- Nhưng được tối ưu hóa lại bằng tinh thần đổi mới và sáng kiến của ông
Hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa của “bánh giầy, bánh chưng” Vua Hùng Vương thứ 6 phải thừa nhận giá trị vượt trội của một nhà lãnh đạo nơi Lang Liêu. Bởi vì:
Một nhà lãnh đạo có đầu óc tiến bộ nhất không phải là người sở hữu những vật thể quý hiếm, đắt giá nhất, mà là người thấu triệt nhu cầu thiết yếu nhất của người dân trong cuộc sống thường nhật.
Sự thành công trong việc tuyển chọn Lang Liêu còn giúp Vua Hùng Vương hoàn thành được những mục tiêu khác cũng hết sức quan trọng:
- Thể theo “Mệnh Trời” đã chọn được người lãnh đạo kế vị thật xứng đáng.
- Chính danh hóa cuộc chuyển giao chính trị – mà hệ quả tất yếu sẽ là những biến động lớn lao làm thay đổi tận gốc lối sống truyền thống của xã hội.
- Và trên tất cả, là làm cho sự thay đổi xã hội rất phức tạp, có thể gây ra những tác động tiêu cực, trở nên dễ hiểu và dễ được người dân hết lòng chấp nhận.
4. Gạo
Tại Việt Nam vào thời cổ đại, Gạo không chỉ đơn thuần là thực phẩm mà còn tiêu biểu cho:
- Sự định canh ổn định (settlement)
- Thủy lợi, cung cấp nước
- Thời gian theo lịch mùa màng
- Cơ cấu xã hội (social organization: cha-con, gia đình, thị tộc, nhóm/phường gặt hái…)
- Thặng dư và thuế
Chọn lựa gạo làm căn bản cho sự mưu sinh là còn nhắm đến:
- Một nền kinh tế ổn định, có khả năng tái tạo (A stable, reproducible economy)
- Một nền móng của sự lãnh đạo được xây dựng trên cuộc sống hàng ngày của người dân — một điều không thể thực hiện được với lối sống du mục
Mặt khác, mưu sinh bằng săn bắn-hái lượm cũng để lộ ra những nhược điểm:
- Phải tùy thuộc vào từng thời điểm trong năm, theo mùa (seasonal)
- Không thể tạo thặng dư lớn hay nuôi sống dân số đông đúc (cannot scale)
- Tài nguyên thiên nhiên và ngay cả nguồn thực phẩm có thể săn bắn được sẽ càng ngày càng bị thu hẹp khi dân số gia tăng
- Quan niệm lỗi thời nặng khai thác (an extractive mindset): Tận lực khai thác tài nguyên (cả thiên nhiên lẫn con người) để thu lợi, mà không lo gìn giữ hay tái tạo, thì về lâu dài môi trường sống sẽ bị thương tổn nặng
Những phân tích trên cho thấy Vua Hùng Vương thứ 6 đã sáng suốt chọn con đường tiến đến văn minh (civilizational choice) cho dân Việt là:
Chuyển đổi hẳn lối sống săn bắn-hái lượm sang định canh nông nghiệp.
5. Yếu Tố Chính Danh
Để thành công trong một kế hoạch lớn lao làm thay đổi toàn thể cơ cấu xã hội, thì các nhà lãnh đạo quốc gia cần phải danh chính, ngôn thuận.
Ở “thượng tầng kiến trúc,” Vua Hùng Vương thứ 6 quyết định là người dân phải chuyển sang lối sống mới để xã hội tiến đến chỗ ổn định và phát triển.
Nhưng “hạ tầng cơ sở” – với mọi tầng lớp người dân – mới chính thực là nơi “hành động” sẽ diễn ra. Vì vậy, thành công hay thất bại trong việc thi hành quyết định của nhà Vua hoàn toàn tùy thuộc vào sự đồng tâm, hiệp lực của toàn dân.
Cần lưu ý là ở vào các xã hội cổ xưa:
- Không có lý thuyết kinh tế giải thích sự ưu việt của lối sống định canh so với lối sống du mục
- Cũng không có văn bản về chính sách (policy whitepapers) và các phương tiện truyền thông để truyền đạt
- Nhưng, trên tất cả, các giới lãnh đạo lại rất phải cần đến tính chính danh (legitimacy) để thu phục nhân tâm
Vì vậy, do nhu cầu chinh phục tâm lý quần chúng, sự diễn giải phức tạp về cuộc “cách mạng xã hội” đã được “biến thái” thành sự tích bánh giầy, bánh chưng – một câu chuyện thần thoại và đạo lý dễ đi vào lòng người:
- Thần linh hiện lên phù trợ và chỉ dẫn hiền nhân Lang Liêu.
- Ngưỡng vọng Đất-Trời. Tôn vinh tổ tiên và cha mẹ.
- Người được Vua chọn kế vị là hiền nhân có tài năng và đức độ.
Đó là cách tiêu biểu mà thần thoại cổ điển được hình thành để chính danh hóa chính trị — không phải lừa dối mà là diễn dịch:
- Chuyển hoá những biến đổi trọng đại của xã hội, rất trừu tượng đối với người dân, thành các biểu tượng mà họ có thể chấp nhận và chung sống.
Theo cách nói của ngôn ngữ học thuật, Sự Tích Bánh Giầy, Bánh Chưng chính là:
Một Thông Điệp Lịch Sử vừa trang trọng vừa giản dị — gói ghém bên trong là bản tuyên ngôn chính trị đồ sộ và phức tạp, làm thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội — nhằm truyền đạt tính chính danh của một vận hội mới đến mọi tầng lớp dân Việt.
6. Truyền thuyết từ các nền văn minh khác
Không riêng tại Việt Nam, mà việc thay đổi lối sống lâu đời từ săn bắn, du mục chuyển sang định canh đều có một ảnh hưởng sâu đậm lên các xã hội khác.
Tại những nơi đó cũng có những truyền thuyết hay huyền thoại phản ánh các thay đổi này. Điển hình là tại Trung Hoa, Mesopotamia, Âu Châu và Nhật Bản.
Trung Hoa:
Trong thần thoại Trung Hoa, vị thần đại diện cho sự khởi đầu của văn minh Trung Hoa là Vua Phục Hy (2852 – 2738 TTL):
- Dạy dân cách làm lưới đánh cá, bẫy thú, dạy cách săn bắn, chăn nuôi.
- Phục Hy là hình ảnh lý tưởng của người hùng ở vào thời săn bắn, hái lượm.
Kế vị Phục Hy là Vua Thần Nông (2737–2698 TTL):
- Đem đến cho Trung Hoa nền nông nghiệp. Dạy dân cách canh tác trồng lúa.
- Đưa xã hội Trung Hoa vượt qua giai đoạn săn bắn hái lượm sơ khai.
Thần thoại Trung Hoa cũng đã chuyển từ mẫu người lý tưởng, tiêu biểu cho anh hùng săn bắn sang hình ảnh của nhà hiền triết nông nghiệp.
Những điều trên đã phản ánh quá trình chuyển đổi của xã hội Trung Hoa từ cuộc sống du mục sang lối sống định canh của nông nghiệp. Và đã mở đường cho các vị vua hiền triết sau này – là những người xây dựng nền văn minh.
Mesopotamia:
Mesopotamia ở vào vùng Tây Nam Á, ngày nay chính yếu thuộc Iraq, được biết đến như “cái nôi của văn minh” (cradle of civilization).
Thuở sơ khai, người Mesopotamian bắt đầu tin vào thuyết duy linh (animism) vào khoảng năm 6000 TTL. Theo thuyết duy linh, mọi thứ trên đời đều có linh hồn (spirit, soul), sức sống (life force). Mọi thứ nói trên gồm động vật, thực vật, đá, sông, núi… Thí dụ: Linh hồn của sông, cây cỏ, núi non…
Khoảng 2000 năm sau, với sự phát triển của nông nghiệp, những “linh hồn” bên trên bị thay thế bởi các vị thần trực tiếp gắn liền hơn với mùa màng, nước và độ màu mỡ, những yếu tố quan trọng cho sự tồn tại.
Điển hình là các thần ngũ cốc (grain goddess) như Ashnan (4000 – 3100 TTL), các thần sinh sản (fertility deities) như Ishtar/Inanna (4000 – 3100 TTL) và người phối ngẫu Tammuz, cùng với các thần nông nghiệp (agricultural gods) như Ninurta/Ninĝirsu (3300 – 1900 TTL).
Các vị thần như trên tiêu biểu cho nguồn sống thiết yếu và các chu kỳ nông nghiệp (sinh trưởng, chết, tái sinh) là trung tâm của nền văn minh của họ, với các thần thoại giải thích về nạn đói (chuyến du hành xuống địa ngục của Tammuz, Tammuz’s underworld journey) và sự sung túc có được do sự can thiệp của thần linh.
Những truyền thuyết về các vị thần ngũ cốc, sinh sản, hay nông nghiệp đã phản ánh thời điểm mà “cái nôi của văn minh” Mesopotamia tiếp nhận nông nghiệp.
Âu Châu:
Cổ tục tế thần bằng súc vật (animal sacrifice) được thực hành tại Âu Châu từ thời tiền sử, trước 800 TTL (prehistoric Europe, prior to about 800 BC) – đến sau thời cổ đại, 800 TTL – 500 sau Tây lịch (classical antiquity, 800 BC to AD 500). Cổ tục này dành cho các nghi lễ tôn giáo nhằm tôn vinh hoặc xoa dịu các vị thần.
Nhưng khi nông nghiệp trở nên phổ biến ở châu Âu, sự xuất hiện của bánh mì đã thay thế cổ tục tế thần bằng súc vật. Ngay cả trước khi Kitô giáo ra đời, bánh mì đã được coi là thiêng liêng; người Hy Lạp đánh dấu những ổ bánh mì dành cho nữ thần Demeter – nữ thần nông nghiệp, mùa màng, sự sinh sôi nảy nở và các mùa trong năm của Hy Lạp cổ đại – liên kết bánh mì với thực phẩm và đất đai.
Văn hóa dân gian Âu châu và các truyền thống cổ xưa cho thấy bánh mì dần dần phát triển để tượng trưng cho sự sống, khả năng sinh sản và sự hiện diện thiêng liêng. Điều này thường được phản ánh qua các khái niệm về sự hy sinh, đặc biệt là với sự chuyển đổi việc tế thần từ động vật sang ngũ cốc, được thấy trong việc thờ cúng nữ thần Demeter của Hy Lạp và sự tôn kính của người Slav, đạt đến tuyệt đỉnh là Bí tích Thánh Thể của Kitô giáo (Christianity’s Eucharist), nơi bánh mì tượng trưng cho thân thể Chúa Kitô.
Khi ngũ cốc trở nên quan yếu trong đời sống tại Âu Châu, thì lục địa này cũng không thiếu những truyền thuyết, hay thần thoại phản ánh sự thay đổi của xã hội.
Nhật Bản:
Ở Nhật Bản, gạo được xem là món quà thiêng liêng và là cốt lõi tinh thần quốc gia, thể hiện niềm tin vào Thần đạo nơi các vị thần trú ngụ trong môi trường tự nhiên.
Thần đạo, Shintoism vào thời đại Yayoi (300 TTL đến 250), và các vị thần:
- Các vị thần về gạo: Niềm tin rằng mỗi hạt gạo chứa bảy vị thần (“in a single grain of rice lives seven gods” – mặt trời, đất, nước, gió, côn trùng, mây và người nông dân) củng cố thêm lòng biết ơn và ngăn ngừa lãng phí.
- Inari: Thần Inari gắn bó mật thiết với gạo, sự sinh sản và thịnh vượng.
- Thần Nước: Các thảm họa thiên nhiên như lụt lội hoặc hạn hán được xem là hành động của Mizu no Kami (Thần Nước), chứ không phải là cơn thịnh nộ của thần gạo, nhấn mạnh sự phụ thuộc vào sự cân bằng của tự nhiên.
Mối liên hệ thiêng liêng này đòi hỏi sự tôn kính gạo, liên kết nó với các nghi lễ của Hoàng đế, lễ vật cúng tổ tiên (như rượu sake omiki), lễ hội (như Obon), và lòng biết ơn hàng ngày, khiến gạo không chỉ là thức ăn mà còn là tinh túy của bản sắc cộng đồng Nhật Bản. Gạo còn mang một sứ mạng nuôi dưỡng sự sống và đất đai.
Mặc dù là một quốc gia hải đảo (island nation), xa rời lục địa Á châu, nhưng cũng như các nền văn minh khác, thực phẩm từ nông nghiệp đã đóng một vai trò quan trọng và còn là thiêng liêng đối với Nhật Bản. Và quốc gia này cũng rất giàu có về thần linh và những truyền thuyết hay thần thoại liên quan đến gạo.
■■■
Vào thời cổ đại, việc giao tiếp và đi lại giữa các xã hội là điều gần như không có. Tuy vậy, sự trỗi dậy cùng sự phát triển tương tự ở các nền văn hóa khác biệt vẫn được xem là một phần của mô hình văn minh toàn cầu (global civilizational pattern). Thí dụ như, nông nghiệp, đồ gốm, và những kiến trúc tráng lệ ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, vốn không hoặc có rất ít sự liên hệ trực tiếp với nhau.
Bởi đó, Trung Hoa, Mesopotamia, Âu Châu, và Nhật Bản thời cổ xưa đều là một phần trong mô hình văn minh toàn cầu đó. Việt Nam cũng không là một ngoại lệ.
Trong sự tìm lại lịch sử qua lăng kính của những truyền thuyết thì rõ rệt truyền thuyết không vỏn vẹn chỉ là “một câu chuyện.”
Mà đó là một hình thái công nghệ—không phải công nghệ kỹ thuật (engineering technology) mà là công nghệ xã hội (social technology)—hoạt động như là một phương thức để bình thường hóa một thế giới quan mới:
Truyền thuyết = Ký ức xã hội + Biện minh chính trị + Giảng dạy văn hóa
7. Thay Lời Kết
Sự tích bánh giầy, bánh chưng không được hình thành từ hư không. Mà đó chính là sự ghi nhận quá trình chuyển tiếp của xã hội Việt, được cô đọng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đầy biểu tượng lịch sử, để trở thành truyền thuyết, mãi lưu truyền.
Sự tích bánh giầy bánh chưng còn là một “trình tự lý luận về sự chuyển đổi lịch sử” hàm chứa các yếu tố căn bản gồm nguyên nhân, và cơ chế của xã hội Việt chuyển sang lối sống mới của nông nghiệp. Nói một cách khác sự tích này tìm cách giải thích các động lực thúc đẩy sự thay đổi lịch sử ở quy mô lớn bằng ngôn ngữ cô đọng và giản dị mà mọi người dân đều có thể “nắm bắt.”
Chính sự khôn khéo của người xưa trong cách truyền đạt – càng gần gụi với tâm tình, càng thân cận với tâm tư người dân – đã giữ cho sự tích bánh giầy, bánh chưng tồn tại trong xã hội Việt trước bao bào mòn, thử thách của thời gian.
Tìm hiểu sự tích bánh giầy, bánh chưng bằng cách khảo sát các mấu chốt có tính biểu tượng, như những chuyển đổi từ săn bắn-hái lượm sang định canh, có thể là điều không chính xác vì đã vượt ra khỏi khuôn khổ của những suy nghĩ truyền thống. Cũng có thể sự tìm hiểu trên căn bản đó là một sai lầm.
Nếu quả vậy, thì đối thoại về những điều này sẽ là điều hết sức cần thiết. Vì đối thoại nghiêm chỉnh chính là một trong những cách hữu hiệu nhất để đào sâu và mở mang thêm sự hiểu biết.
Khi thực hiện bài viết về truyền thuyết bánh giầy, bánh chưng, người viết không nhằm để “giải thích truyền thuyết” này mà là để lắng nghe và ghi lại những gì “truyền thuyết được thiết kế để giải thích.”
Vì nếu truyền thuyết là ký ức tập thể của một dân tộc, thì việc lắng nghe truyền thuyết cũng chính là một cách lắng nghe lịch sử đang tự kể lại câu chuyện của chính mình.
Hy vọng việc ghi lại những “giải thích từ truyền thuyết” Bánh Giầy Bánh Chưng cũng đem lại được cho quý vị độc giả đôi điều ý nghĩa.
San Jose, California – Ngày 30 Tháng 12, 2025
Trần Trung Tín
Phụ Chú:
◼︎ TRUNG HOA:
Trong thần thoại Trung Hoa, có ba vị thần được gọi là Tam Hoàng, gồm có Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông, tiêu biểu cho văn minh Trung Hoa lúc khởi đầu.
Phục Hy (Fu Xi 伏羲) (2852-2738 trước Tây lịch), vị Vua đứng đầu Tam Hoàng:
- Được xem là thủy tổ loài người và đã thiết lập nền văn minh sơ khai.
- Cùng với Nữ Oa, là em gái, nặn đất tạo ra người, sau trận đại hồng thủy hai người kết hôn để duy trì nòi giống.
- Sáng tạo văn minh sơ khai: phát minh ra lưới bắt cá, bẫy thú.
- Dạy cho dân cách làm lưới đánh cá, bẫy thú, dạy cách săn bắn, chăn nuôi.
- Một hình ảnh lý tưởng, tiêu biểu cho người đi săn sống vào thời kỳ sơ khai.
Thần Nông (Shen Nong 神農) (2737–2698 trước Tây lịch), kế vị Vua Phục Hy:
- Mang nông nghiệp đến cho Trung Hoa.
- Phát minh ra cái cào, cái cày và cái liềm.
- Dạy dân cách canh tác trồng lúa.
- Nổi tiếng nhất vì đã ghi chép lại tác dụng của từng loại thảo dược.
Di sản của Vua Thần Nông là dã đưa xã hội Trung Hoa vượt qua giai đoạn săn bắn hái lượm của thời sơ khai.
◼︎ MESOPOTAMIA:

Mesopotamia là một khu vực lịch sử ở Tây Nam Á, được biết đến như “cái nôi của nền văn minh” – “cradle of civilization”, nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates, ngày nay chính yếu thuộc Iraq, nhưng cũng bao gồm các phần của Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Kuwait.
Vùng đất màu mỡ này, Mesopotamia chữ Hy Lạp có nghĩa là “vùng đất giữa các con sông” – “land between the rivers”, đã chứng kiến sự ra đời của một số thành phố và hệ thống chữ viết đầu tiên của thế giới (như chữ cuneiform, xem https://www.britannica.com/topic/cuneiform) từ các nền văn minh cổ đại như của người Sumerians, Akkadians, Babylonians, và Assyrians.
Theo encyclopedia website:
Sự phát triển của các khu định cư, mà các nhà dân tộc học gọi là “bước ngoặt vĩ đại của nhân loại” và được thúc đẩy gián tiếp bởi việc tìm kiếm bánh mì (nông nghiệp chỉ là phương tiện để đạt được mục đích này), đã giúp xác định các thể chế kinh tế và xã hội (sự phát triển của quyền sở hữu, việc dùng lúa mì như một hình thức trao đổi giá trị, v.v.). Việc trồng trọt và thu hoạch cũng như các sự kiện làm nguy hại mùa màng (lụt lội, hạn hán) được coi là những sự kiện then chốt trong đời sống nông nghiệp.
The growth of settlements, which ethnologists refer to as the “great turning point for humanity” and which was indirectly inspired by the search for bread (agriculture was only a means to this end), helped define social and economic institutions (the growth of property rights, the use of wheat as a form of exchange value, and so on). Planting and harvesting as well as the events that endanger crops (flood, drought) were perceived as key events in agricultural life.
Xin Mời Đọc:
- Truyện ngắn: Hai Con Giáp
Chú Thích:
- Tóm tắt Sự tích Bánh Giầy-Bánh Chưng:
Thời Hùng Vương thứ sáu (1712 – 1632 trước Tây lịch), nhà Vua công bố sẽ truyền ngôi cho người con nào có phẩm vật quý nhất dâng cúng tổ tiên vào dịp Tết. Các hoàng tử đua nhau tìm của ngon vật lạ khắp rừng sâu, biển rộng đem về dâng Vua. Chỉ riêng Lang Liêu, theo lời Thần chỉ dạy, dâng lên bánh giầy (hình tròn) tượng trưng cho trời và bánh chưng (hình vuông), làm từ gạo nếp, có nhân, thịt heo, tượng trưng cho đất – thể hiện lòng biết ơn trời đất, tổ tiên và cha mẹ. Chính ý nghĩa sâu sắc này, và nhất là được Thần phù trợ, đã khiến Vua truyền ngôi cho Lang Liêu.
Một khảo cứu công phu, hữu ích. Các truyền thuyết giúp hiểu biết hơn những thay đổi của xã hội, của các nền văn minh trong quá khứ. Tìm hiểu lai lịch và ý nghĩa của những “chuyện xưa, tích cũ” của nước nhà và của thế giới là một cách học lịch sử sinh động. Cám ơn tác giả Trần Trung Tín.
Nguyễn Sanh
Xin cảm tạ anh Nguyễn Sanh đã có một nhận xét rất là đúng: > Tìm hiểu lai lịch và ý nghĩa của những “chuyện xưa, tích cũ” của nước nhà và của thế giới là một cách học lịch sử sinh động.
Tôi muốn được thêm vào ít điều mà theo tôi rất cần thiết cho “cách học lịch sử sinh động” là: Phải suy nghĩ thận trọng. Luôn luôn tôn trọng sự phức tạp của sự việc xưa cũ. Và nhất là tránh xa việc mù quáng tôn kính những gì đã được đặt định cũng như không thể “thản nhiên” xem thường và gạt bỏ những gì “cũ kỹ” khác với điều mình nghĩ (hay tưởng) là mình biết (hay hiểu).
Đứng trước một sự việc không được tỏ tường, thì bắt đầu bằng những câu hỏi thành thật. Rồi cố gắng cẩn trọng tìm hiểu trong khả năng của mình. Có ghi lại thành bài viết, thì cũng chỉ như là để chia sẻ với những vị thích đọc hay nói theo cách nói của anh là thích “học lịch sử sinh động.” Xin cám ơn anh. -Trần Trung Tín
Đáy là một bài viết có nhiều chi tiết hữu ích, nhiều khám phá mới lạ của lịch sử dân tộc và đây cũng là bản văn khảo cứu văn hóa dân tộc đầy giá trị cho nhiều thế hệ sau…
Xin cám ơn anh Vanpho. Thật là một phần thưởng cho người viết khi bài viết của họ đã đem đến cho bạn đọc một số chi tiết hữu ích và mới lạ. Thực ra, những điều có thể được xem là “mới lạ” đó chúng hiện hữu ngay tự ban đầu của sự việc, nghĩa là cũng “cũ” hết cả. Có điều là mình chịu khó tìm tòi, và may mắn thì nhận ra được các điều này. Mà đem sắp xếp và ráp từng mảnh lại thì có khi lại thấy “mới.” Và nếu còn đem lại được hữu ích cho bạn đọc, cho người khác, thì đó là niềm vui, là đã “trả công khó” cho các cây viết amateur như tôi đó, anh Vanpho. 😀😀 Xin cám ơn anh. -Trần Trung Tín