Quan sát. Lắng nghe. Ghi nhận. Chia sẻ

Người Đàn Bà tìm lại miền Nam sau cuộc Nội chiến Mỹ

Trần Trung Tín

Cuộc Nội chiến Mỹ — The American Civil War — giữa Union (miền Bắc) và Confederacy (miền Nam) đã diễn ra từ 1861 đến 1865 nhằm giải phóng nô lệ da đen ở miền Nam. Đây là một trong những biến cố lịch sử trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Chỉ riêng về tổn thất nhân mạng của hai bên, con số đã lên tới khoảng từ 620.000 đến hơn 750.000 người.

I. Tác phẩm & Tác giả

Tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới, biến cố lịch sử này được nhiều người biết nhờ vào tác phẩm Gone with the Wind (GWTW). Năm 2014, công ty The Harris Poll thực hiện cuộc thăm dò về America’s Favorite Book. Kết quả cho thấy, đứng đầu là quyển Thánh Kinh được đọc nhiều nhất, và kế đó là GWTW.

Riêng với giới độc giả và khán giả quốc tế, nếu không phải là duy nhất, thì Gone with the Wind (cả sách và phim) cũng là nguồn tài liệu chính yếu giúp họ hiểu biết về cuộc Nội chiến Mỹ. Tuy nhiên, GWTW cũng gặp nhiều chỉ trích vì chỉ tập trung vào mối quan hệ tốt đẹp giữa giới chủ (da trắng) và tớ (da đen), đồng thời bỏ qua những khía cạnh tàn tệ của chế độ nô lệ.

Đối với Âu Châu, sau Thế Chiến II, việc nhân vật chính Scarlett O’Hara, một góa phụ trẻ đẹp, trong hoàn cảnh “đổi đời” phải tận lực chiến đấu để sinh tồn là một hình ảnh đầy bi kịch sâu sắc. Dù xảy ra ở miền Nam nước Mỹ, khi phim GWTW được trình chiếu, câu chuyện của Scarlett được khán giả Âu Châu đón nhận tựa như là một sự tái hiện lại cảnh ngộ của chính họ sau chiến tranh.

Quả cảm đương đầu với cô đơn và sợ hãi. Kiên trì vượt thắng mọi chông gai và đau khổ. Một Scarlett O’Hara như thế như đã trở thành biểu tượng của sự tồn tại của nền văn minh bị phá hủy bởi một thế lực xâm lăng cưỡng đoạt từ bên ngoài ― tương đồng với thảm cảnh xảy ra tại nhiều quốc gia Âu Châu trong Thế Chiến II.

Từ nhiều thập niên qua, những ảnh hưởng sâu rộng và các cuộc tranh luận như trên vẫn tiếp diễn và có lẽ sẽ còn tiếp tục. Tất cả bắt nguồn từ Gone with the Wind ― kiệt tác của Margaret Mitchell, một tác giả có thể được mệnh danh là ‘Người Đàn Bà tìm lại miền Nam sau cuộc Nội chiến Mỹ.

Nghiệp dĩ văn chương

Margaret Mitchell sinh ngày 8/11/1900 tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia. Bà qua đời ngày 16/8/1949, cũng tại Atlanta.

Theo wikipedia, từ nhỏ Margaret Mitchell đã mê đọc sách. Mẹ bà thường đọc cho bà nghe tiểu thuyết của Mary Johnston trước khi bà biết đọc. Hai mẹ con từng rơi lệ khi đọc The Long Roll (1911) và Cease Firing (1912) của Johnston. Cease Firing là tiểu thuyết lãng mạn về chuyện tình giữa một người lính miền Nam và một tiểu thư xinh đẹp ở đồn điền tại Louisiana. Bà cũng đọc kịch của William Shakespeare, tiểu thuyết của Charles Dickens và Sir Walter Scott.

Ngày 4/7/1925, Margaret Mitchell, 24 tuổi, lập gia đình với John Marsh, 29 tuổi. Trước đó, từ năm 1922, bà đã viết cho tạp chí The Atlanta Journal Sunday Magazine.

Tháng 5/1926, Mitchell nghỉ làm tại tờ Atlanta Journal do chấn thương mắt cá chân. Nhưng bà vẫn viết mục chuyện phiếm “Elizabeth Bennet’s Gossip” cho Sunday Magazine cho đến tháng Tám.

Vì bà đi lại khó khăn, nên ông Marsh ra thư viện mượn sách đem về nhà cho bà đọc giải khuây. Theo lời kể lại, một ngày nọ, từ thư viện trở về nhà tay không, ông cho biết bà đã đọc hết các tác phẩm hư cấu trong thư viện (claiming that she had read all the library’s works of fiction).

Khi đó, ông Marsh đề nghị là bà nên viết sách:

Lạy Chúa, Peggy, sao em không viết một quyển sách thay vì đọc hàng nghìn quyển? [Peggy là bút hiệu của bà.]

Hình thành tác phẩm

Thế là trong suốt ba năm tiếp theo, kể từ năm 1926, bà Mitchell đã dành toàn bộ thời gian để miệt mài viết quyển tiểu thuyết lấy bối cảnh thời Nội chiến. Ban đầu, bà viết chương cuối cùng (Chương 63) trước tiên, trong khi các chương khác được viết theo cảm hứng và không theo thứ tự nào cả. Khi hoàn thành, bà mới sắp xếp lại toàn bộ. Nhân vật chính của truyện là nữ giới, nguyên thủy lúc ban đầu có tên Pansy O’Hara.

Câu chuyện bà viết thể hiện cái nhìn được lãng mạn hóa về miền Nam Xưa Cũ (the Old South). Cuộc đời của nhân vật chính trải dài từ thời kỳ Tiền Nội chiến Mỹ (Antebellum South hay Pre-Civil War), qua hết cuộc Nội chiến và sang đến thời kỳ Tái thiết (Reconstruction, 1865–77). Nhiều chi tiết trong truyện dựa trên những gì bà Mitchell nghe kể từ cha mẹ, người thân, láng giềng, cũng như các cựu chiến binh miền Nam (Confederate) mà bà đã gặp khi còn nhỏ.

Tháng 4/1935, Harold Latham, một biên tập viên của nhà xuất bản Macmillan, New York, đi khắp miền Nam để tìm tác phẩm mới. Khi gặp bà Mitchell, ông Latham được bà đưa cho xem bản thảo. Trên chuyến xe lửa đi New Orleans, Louisiana, ông mới chỉ đọc xong một phần, đã gửi nguyên bản thảo về New York.

Sau đó, ông Latham thuyết phục bà Mitchell hoàn tất quyển tiểu thuyết, với một yêu cầu quan trọng là đổi tên nhân vật chính. Bà đồng ý đổi tên Pansy O’Hara thành Scarlett O’Hara.

Tháng 7/1935, theo Georgiaencyclopedia, nhà xuất bản Macmillan đề nghị ký hợp đồng. Bà nhận khoản tiền ứng trước 500 Mỹ kim (tương đương 12.000 Mỹ kim, thời giá tháng 5/2026) và sẽ được hưởng 10% tiền bản quyền. Sau khi ký kết hợp đồng, bà Mitchell dành thêm sáu tháng để rà soát lại các tài liệu lịch sử và viết lại chương mở đầu nhiều lần. Bà cùng người chồng, John Marsh, hiệu chỉnh phiên bản cuối cùng.

Là một tác giả cực kỳ cẩn trọng, bà Mitchell đặc biệt quan tâm đến việc viết một quyển tiểu thuyết chính xác về mặt lịch sử. Trong lá thư trả lời một độc giả vào năm 1937, bà cho biết đã dành ra “mười năm… đọc hàng nghìn cuốn sách, tài liệu, thư từ, nhật ký và báo chí cũ” (“ten years . . . reading thousands of books, documents, letters, diaries, [and] old newspapers”) để bảo đảm sự chính xác của các chi tiết lịch sử trong quyển sách. Ngoài ra, bà cũng phỏng vấn nhiều người đã sống qua thời kỳ chiến tranh, và bà từng rong ruổi trên lưng ngựa cùng các cựu chiến binh miền Nam để xác nhận sự chính xác của các chi tiết về thời kỳ đó.

Những tựa đề

Sau gần 10 năm cống hiến cho việc hoàn thành tác phẩm, bà Mitchell rất đắn đo trong việc chọn tựa đề. Cũng theo Georgiaencyclopedia, những tựa đề sáng giá được cân nhắc gồm: Tomorrow Is Another Day, Another Day, Tote the Weary Load, Milestones, Ba! Ba! Blacksheep, Not in Our Stars và Bugles Sang True.

Nhà xuất bản Macmillan đã muốn chọn Tomorrow Is Another Day” làm tựa đề cho tác phẩm. Câu nói này lấy cảm hứng từ lời độc thoại đậm màu triết lý sống của Scarlett O’Hara ở đoạn kết nơi Chương 63, như một lời giã biệt:

I’ll think of it all tomorrow, at Tara. I can stand it then. Tomorrow, I’ll think of some way to get him back. After all, tomorrow is another day.

Lời độc thoại này thể hiện trọn vẹn cá tính quả cảm và ý chí can trường của Scarlett. Thay vì hoàn toàn trốn tránh thực tại đớn đau không lối thoát, cô luôn có đủ đảm lược để đối diện với sự thực, và tìm được đủ phương cách để vượt qua. Dù trong tận cùng của cô đơn hay nhụt chí, với Scarlett, không bao giờ có hai chữ “đầu hàng” trong tâm tưởng, ngay cả khi rơi vào tình cảnh bế tắc nhất.

Tuy vậy, Margaret Mitchell, người sáng tạo ra tâm hồn và nhân cách của nhân vật Scarlett O’Hara, lại quyết định chọn “Gone with the Wind” (Cuốn theo Chiều gió).

Quyết định này cho thấy bà bị ám ảnh không rời bởi một dòng thơ trong thi phẩm tiếng Anh có tựa đề tiếng Latin ‘Non Sum Qualis Eram Bonae Sub Regno Cynarae‘ của Ernest Dowson 1:

I have forgot much, Cynara! gone with the wind, 
Flung roses, roses riotously with the throng, 
Dancing, to put thy pale, lost lilies out of mind; 
But I was desolate and sick of an old passion, 
Yea, all the time, because the dance was long: 
I have been faithful to thee, Cynara! in my fashion.

Margaret Mitchell đã chọn Gone with the Wind làm tựa đề như thể muốn nói đến một miền Nam Xưa Cũ hoàn toàn bị hủy diệt bởi cuộc Nội chiến — mọi thứ đều bị cuốn trôi sau cơn cuồng phong bão dữ.

Mặt khác, tựa đề này còn có hàm ý ám chỉ đằng sau sự hủy diệt tận cùng là một quyết tâm sống còn, và khả năng thích nghi đến độ gần như vô cảm để đương đầu với mọi khốc hại ập đến, không khoan nhượng trong buổi giao thời đầy nhiễu nhương khổ ái.

Theo nhận xét riêng của người viết, việc chọn Gone with the Wind làm tựa đề đã cho thấy sự tinh tế và cảm nhận hết sức sâu sắc của Margaret Mitchell. Thay vì để cảm xúc cá nhân chi phối, bà đã mở rộng tầm nhìn bao quát, thấu suốt trọn vẹn giá trị và thông điệp của tác phẩm.

Thực vậy, mặc dù Scarlett O’Hara là nhân vật chính với cá tính vô cùng độc đáo, cô cũng chỉ là một nhân tố góp phần quan trọng tạo nên sự thành công của tác phẩm. Nhìn từ khía cạnh văn học, toàn bộ câu chuyện mới tạo thành một tổng thể hợp nhất của nghệ thuật, đúng như câu phát biểu nổi tiếng (vẫn được cho là) của Aristotle: ‘The whole is greater than the sum of its parts.’ (Tổng thể lớn hơn tổng số các phần tạo nên nó).

Tuy tựa đề ‘Tomorrow Is Another Day’ mang ý nghĩa đặc sắc, nó vẫn có tính phổ quát và áp dụng được trong nhiều trường hợp khác nhau.

Nhưng chỉ duy nhất ‘Gone with the Wind’ mới lột tả được trọn vẹn hình ảnh của một miền Nam Xưa Cũ đã hoàn toàn bị “Cuốn theo Chiều gió.”

Hai tác phẩm – Một cội nguồn

Ngày 30/6/1936, quyển Gone with the Wind phát hành lần đầu tiên với 63 chương, 1.037 trang và giá bán 3 Mỹ kim. Ngay sau khi phát hành, GWTW đã gây chấn động khắp Atlanta, Georgia ― nơi phần chính câu chuyện diễn ra.

Chỉ trong 6 tháng đầu tiên sau khi xuất bản, đã bán được 1 triệu quyển GWTW. Đến thời điểm tác giả Mitchell qua đời năm 1949, con số này lên đến 8 triệu quyển, và cho đến nay tối thiểu thêm 25 triệu quyển nữa (theo số liệu cập nhật ngày 27/5/2025 của History.com). Ngoài ra, cũng theo History.com, GWTW còn được xếp hạng là một trong những tiểu thuyết bán chạy nhất mọi thời đại.

Cũng trong năm phát hành GWTW, bà Mitchell nhận giải thưởng National Book Award:The “Most Distinguished Novel of 1936.”

Tháng 7/1936, đúng một tháng sau khi tác phẩm Gone with the Wind ra mắt, nhà sản xuất phim lừng danh tại Hollywood, David O. Selznick, đã trả cho tác giả Mitchell số tiền kỷ lục là 50.000 Mỹ kim (tương đương 1.187.000 Mỹ kim, thời giá tháng 5/2026) để mua bản quyền làm phim, căn cứ theo nội dung quyển truyện.

Tháng 5/1937, Margaret Mitchell được trao giải Pulitzer (the Pulitzer Prize for Fiction) cho tác phẩm Gone with the Wind; được công nhận vì sự nổi tiếng rộng khắp và những đóng góp to lớn cho nền văn học trong năm đó.

Tháng 12/1938, Hollywood bắt đầu quay Gone with the Wind. Trước đó, để tuyển lựa vai chính Scarlett O’Hara, 1.400 thiếu nữ được phỏng vấn. Và 128 nữ diễn viên, trong đó có những minh tinh màn bạc nổi tiếng 2, được mời đóng thử (screen test) nhưng không ai được chọn. Mãi đến khi phim đang quay những phân cảnh đầu tiên, nhà sản xuất Selznick mới chọn được nữ diễn viên người Anh Vivien Leigh vào vai Scarlett, và nam tài tử Clark Gable trong vai Rhett Butler.

Vivien Leigh (1913–1967) và “Gone with the Wind” (1939) – https://goldenglobes.com/articles/forgotten-hollywood-vivien-leigh-and-gone-wind-1939/

Ngày 15/12/1939, phim chính thức phát hành. Dù thành công vang dội và được xem là viên ngọc quý trên vương miện của Thời kỳ Hoàng kim của Hollywood, nhưng, cũng như tiểu thuyết gốc, phim Gone with the Wind bị chỉ trích gay gắt.

Cảnh dạ vũ trong phim Gone with the Wind – https://www.britannica.com/topic/Gone-with-the-Wind-novel

Những ý kiến chỉ trích cho rằng, việc lãng mạn hóa miền Nam nước Mỹ đã khiến Gone with the Wind vẽ nên một bức tranh màu hồng về mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ (da trắng) và tớ (da đen), từ đó bỏ qua sự tàn bạo và bóc lột của hệ thống đồn điền cùng chế độ nô lệ. Sự thiếu sót này bị diễn giải là tác phẩm cố tình che đậy những vết nhơ của chế độ nô lệ, đồng thời làm lu mờ nguyên ủy của cuộc Nội chiến—là để xóa bỏ chế độ này tại miền Nam.

Vĩnh viễn Cuốn Theo Chiều Gió – Forever Gone with the Wind

Gone with the Wind là quyển tiểu thuyết duy nhất được phát hành trong đời của tác giả Margaret Mitchell.

Một trong những lý do khiến bà không viết thêm được quyển tiểu thuyết nào khác có thể là vì bị mất quá nhiều thời giờ để cùng với người anh trai và chồng lo việc kiện tụng để bảo vệ bản quyền quyển sách của bà ở nước ngoài. Vào thời đó, luật bản quyền quốc tế vẫn còn mơ hồ và khác biệt giữa các quốc gia.

Thêm nữa, việc trả lời thư tín cũng chiếm phần lớn thời giờ của bà. Theo Georgiaencyclopedia, trong nhiều năm sau khi xuất bản GWTW, bà đều đích thân trả lời mọi thư từ của độc giả liên quan đến tác phẩm.

Sau khi Mỹ chính thức tham chiến Thế Chiến II (1941-1945), bà Mitchell đã tận tụy làm việc cho Hội Hồng Thập Tự của Hoa Kỳ. Thậm chí bà còn bỏ tiền trang bị cho một con tàu bệnh viện. Ngoài ra, bà còn thành lập các học bổng cho sinh viên y khoa người da đen.

Ngày 11/8/1949, hai vợ chồng bà Mitchell đi xem phim “A Canterbury Tale” tại Peachtree Art Theatre. Một xe taxi chạy quá tốc độ đã đụng trúng bà Mitchell. Bà được đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng không bao giờ hồi tỉnh lại.

Trong suốt năm ngày trước khi qua đời, có đám đông túc trực bên ngoài bệnh viện để theo dõi tin tức. Các đường dây điện thoại đặc biệt được gắn tại bệnh viện, và bạn bè thay phiên nhau trực điện thoại.  

Cũng theo Georgiaencyclopedia, trước tin chấn động này, Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, Thống đốc tiểu bang Georgia Herman Talmadge và Thị trưởng thành phố Atlanta William B. Hartsfield đều yêu cầu được thường xuyên cập nhật tình trạng sức khỏe của bà.

Ngày 16/8/1949, Margaret Mitchell — người để lại cho đời một di sản nghệ thuật bất hủ — đã lên đường trở về với cát bụi.

Vĩnh viễn Cuốn Theo Chiều Gió!  ✦  Forever Gone with the Wind!

II. Ngược dòng lịch sử

Cuộc Nội chiến Mỹ kết thúc năm 1865, và mãi 35 năm sau (1900), Margaret Mitchell mới chào đời. Khi bà bắt đầu chấp bút Gone with the Wind vào năm 1926, cuộc chiến đã lùi xa 61 năm; thế nhưng, những chi tiết về thời kỳ đó vẫn được bà làm sống lại vô cùng sống động.

Dù không sống trong thời chiến, bà Mitchell lớn lên ở Atlanta – nơi từng là cứ điểm tiếp vận chiến lược của Nam quân và bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến. Từ nhỏ, bà thường xuyên được nghe người thân và bạn bè gia đình, vốn là những cựu chiến binh và nhân chứng sống, kể lại những câu chuyện về thời kỳ Nội chiến và Tái thiết. Chính những câu chuyện đó, kết hợp với công trình nghiên cứu kỹ lưỡng của bà, đã tạo nên bối cảnh vô cùng chân thực cho Gone with the Wind.

Về phần riêng, tôi đọc Cuốn Theo Chiều Gió (bản dịch của Vũ Kim Thư) vào khoảng gần cuối năm 1975 hoặc sang đầu năm 1976 — chỉ vài tháng sau khi Nam Việt Nam bại trận.

Lúc đó, một mặt, ‘bên thắng cuộc’ — những người cộng sản Việt Nam — tiếp tục thổi bùng ngọn lửa chiến thắng để thoả mãn sự hãnh tiến của họ sau bao năm dài cơ khổ. Mặt khác, sau khi hoàn tất những đợt tập trung đưa nhiều thành phần của ‘bên thua cuộc’ vào các trại “học tập cải tạo” (= trại tù khổ sai không bản án), họ liên tục tiến hành những chiến dịch thanh trừng toàn diện và sâu rộng. Trong bối cảnh đó, những gì tôi đọc được từ Cuốn Theo Chiều Gió như thể những âm ba vọng về từ quá khứ.

Điểm khác biệt chính là, không như tác giả Mitchell chỉ được nghe kể lại những câu chuyện đã xảy ra, chính tôi tận mắt chứng kiến những gãy đổ, đau thương và đen tối, hãi hùng của Nam Việt Nam sau khi sụp đổ. Đó không phải là hậu quả của chiến tranh (đã chấm dứt) mà là một sự trả thù vô nhân tính có kế hoạch, có hệ thống, vô cùng tráo trở và tàn bạo 3 của người cộng sản Việt Nam; nhất là với chủ tâm muốn hủy diệt mọi cơ chế xã hội của miền Nam Việt Nam.

Những con kên kên

Sau khi cuộc Nội chiến Mỹ chấm dứt là sang đến thời kỳ Tái thiết (1865–1877). Ở giai đoạn này, những người miền Nam hợp tác với phe miền Bắc vẫn thường bị người đồng hương của mình miệt thị là scalawags — là kẻ phản trắc.

Là một nhân vật từng trải và phức tạp trong Gone with the Wind, Rhett Butler – làm giàu nhờ buôn lậu vượt phong tỏa (blockade runner) – bị xã hội miền Nam xem như một con chiên ghẻ, kẻ bất hảo (black sheep), giống như những kẻ phản trắc (scalawags), dù thực chất Rhett chỉ quan tâm đến lợi nhuận.

Xuất thân từ một gia đình danh giá ở Charleston, South Carolina, nhưng Rhett Butler bị gia đình ruồng bỏ. Tuy nhiên, Butler rất ‘thức thời.’ Dù sinh trưởng ở miền Nam, triết lý kinh doanh của Butler rất giản dị: Lợi dụng tối đa sự hỗn loạn của miền Nam đang bị sụp đổ để làm giàu.

Trong chiến tranh, khi Bắc quân phong tỏa miền Nam, Butler làm thuyền trưởng lái tàu chở bông vải len lỏi qua hàng rào phong tỏa đem bán tại các hải cảng trong vùng biển Caribbean, như Nassau (Bahamas) hoặc Havana (Cuba). Khi quay về, tàu chất đầy ‘hàng ngoại’ — gồm các thứ đang thiếu hụt như súng ống, đạn dược, thuốc men, cà phê, xì gà, và rượu vang — để bán lại cho miền Nam với giá rất cao.

Sang thời kỳ Tái thiết sau chiến tranh, Rhett Butler tận dụng các mối quan hệ đã có từ trước qua những hoạt động buôn lậu vượt phong tỏa, và ông nhanh chóng tìm cách đầu tư vào các dự án kinh doanh của phe Bắc quân để làm giàu thêm. Hành động này của ông đã khiến những người miền Nam bảo thủ tức giận, mỉa mai coi ông là một kẻ phản trắc (scallawag) bắt tay với những kẻ khố rách áo ôm (carpetbaggers) 4 từ Bắc vào Nam để trục lợi.

Tình trạng nhiễu nhương của xã hội Mỹ thời kỳ Tái thiết – với sự xuất hiện của những kẻ phản trắc (scalawags) hợp tác cùng các giới khố rách áo ôm (carpetbaggers) đến từ miền Bắc — gợi lên một sự tương đồng sâu sắc với cảnh thế đảo điên và bất ổn của xã hội Nam Việt Nam sau ngày 30/4/1975.

Ở Nam Việt Nam trong giai đoạn này, có không ít những thành phần có hành vi và bản chất rất giống với các phần tử ‘scalawags’ của Mỹ. Đó là những kẻ đầu cơ chính trị tự xưng danh là ‘thành phần thứ ba’ hay ‘lực lượng hòa hợp, hòa giải dân tộc’, hoặc tệ hại hơn nữa là những hạng bị dán nhãn là ‘cách mạng 30 tháng 4’ (‘cách mạng giờ thứ 25’). Các thành phần ‘đón gió trở cờ’ này nhanh chóng chạy ra nhận vơ công lao “đóng góp cho cách mạng” nhằm mục đích cầu cạnh và móc ngoặc với các lực lượng tiếp quản để kiếm chác và trục lợi.

Vào thời gian đó, theo đoàn quân chiến thắng từ Bắc tiến vào Nam, cũng có nhiều người ‘khố rách áo ôm,’ theo đúng nghĩa đen của tiếng Việt. Nhưng khác hẳn với thành phần ‘carpetbaggers‘ của Mỹ thời sau Nội chiến, đa số họ đều thuộc tầng lớp nghèo khó ở miền Bắc, thuần túy vào Nam chỉ để mưu sinh, kiếm sống cho được dễ dàng hơn. Dù vậy, giữa bầu không khí chính trị căng thẳng, họ vẫn bị người dân địa phương trong Nam nghi kỵ và xem nhẹ.

Ngược lại, quyền lực thực tế nằm trong tay bộ máy nhà nước, công an và quân đội của chính quyền cộng sản miền Bắc. Sự hiện diện của các lực lượng công an, bộ đội, quan chức, và cán bộ tiếp quản được đưa vào để thâu tóm quyền lực trong Nam đã tạo ra một tầng lớp mới, sẵn sàng thông đồng và cấu kết với nhau để đục khoét, xâu xé và chia chác đủ loại ‘chiến lợi phẩm’ tịch thu hay chiếm đoạt được từ bên bị bại trận.

Tại Sài Gòn, ở thời gian cuối năm 1975 sang đầu năm 1976, tôi đã không khỏi kinh ngạc trước mức độ chính xác của những lời Rhett Butler nói với Scarlett O’Hara trong lúc cuộc Nội chiến Mỹ đang đi vào đoạn kết:

… Tôi đã từng nói với em trước đây là có hai thời điểm để làm ra được nhiều tiền, một là trong lúc xây dựng quốc gia và hai là trong khi hủy diệt nó. Đồng tiền đến chậm khi xây dựng, đồng tiền đến nhanh trong đổ vỡ. Hãy nhớ lời tôi nói. Có lẽ một ngày nào đó chúng sẽ có ích cho em. (Chương 13)

… I told you once before that there were two times for making big money, one in the upbuilding of a country and the other in its destruction. Slow money on the upbuilding, fast money in the crack-up. Remember my words. Perhaps they may be of use to you some day. (Chapter XIII)

Lời nguyền từ quá vãng

Tại thời điểm đó, đối chiếu với những điều Butler đã nói, tôi thấy giống với những gì xảy ra tại Nam Việt Nam. Dù chi tiết làm giàu có khác biệt, nhưng lý thuyết trên của Butler rất đúng.

Quả thực, sau 30-4-1975, cách làm giàu nhanh nhất của bên thắng cuộc là nhân danh “cách mạng” để trấn lột người miền Nam qua các chiến dịch đổi tiền (bằng phương cách không khác gì cướp ngày), đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp, và cưỡng ép người dân đi vùng kinh tế mới nhằm tịch thu tài sản, cơ sở sản xuất, nhà máy, nhà cửa và ruộng vườn của họ. Cũng không thể quên nạn đói đe dọa toàn miền Nam và còn lan ra toàn quốc từ thời 1975 cho đến cả thập niên theo sau.

Những điều ghi trên phù hợp với ‘tư duy cách mạng’ là phải tận diệt mọi cơ chế của miền Nam để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Còn về mặt ‘đạo đức cách mạng,’ phải tranh thủ triển khai nguyên lý căn bản mà Rhett Butler đã chỉ rõ: “Có hai thời điểm để làm ra được nhiều tiền, một là trong lúc xây dựng quốc gia và hai là trong khi hủy diệt nó. Đồng tiền đến chậm khi xây dựng, đồng tiền đến nhanh trong đổ vỡ.”

Bởi đó, để làm giàu thật nhanh, bên thắng cuộc không cần bỏ vốn mà chỉ cần tận lực hủy diệt miền Nam và lợi dụng mọi cơ hội để nhanh chóng làm giàu cho chính họ ngay trên các đổ vỡ, thương đau của máu xương, tủi nhục và cả sinh mạng của người dân bên thua cuộc.

Đọc quyển Cuốn Theo Chiều Gió ngay giữa một miền Nam đã gục ngã, điêu tàn thì với tôi, điều mà Rhett Butler đã phát biểu, nghe như một ‘lời nguyền’ độc ác từ quá vãng, đang được khuếch đại và hiện nguyên hình trong hiện thực.

Nhưng, nói cho công bằng, thực ra, cho dù trước đó có nghiền ngẫm thật kỹ ‘triết lý làm giàu’ của black sheep Rhett Butler, và cho dù mang nặng nghi ngờ đối với người cộng sản Bắc Việt, tôi vẫn không thể nào liên tưởng hay lường trước được, và cũng không bao giờ có thể nắm bắt được khả năng ‘siêu tuyệt’ trong việc làm giàu của họ qua việc bần cùng hóa người dân và lưu manh hóa toàn bộ xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

III. Chiến tranh & Mất mát

Chiến tranh nào rồi cũng phải kết thúc. Cuộc Nội chiến Mỹ cũng không là một ngoại lệ. Nhưng như một ngọn đèn dầu sắp cạn, trước khi hoàn toàn lịm tắt, nó sẽ loé lên ánh sáng cuối cùng. Ngọn lửa của cuộc Nội chiến Mỹ trước khi tàn đã bùng lên dữ dội, thiêu rụi thành phố Atlanta.

Atlanta bốc cháy

Trong khi Atlanta đang hoảng loạn vì bị quân miền Bắc bao vây và pháo kích, Melanie Hamilton Wilkes, chị dâu của Scarlett (em gái người chồng quá cố của cô), lại chuyển dạ sinh con. Không có bác sĩ hay bà mụ nào có thể được gửi đến giúp Melanie vì thương binh đã tràn ngập các bệnh viện dã chiến. Dù tâm trí rối bời và vô cùng hoảng sợ, nhưng vì không còn ai khác, Scarlett buộc phải tự tay giúp Melanie cho được mẹ tròn con vuông.

Giữa khung cảnh hỗn loạn và nguy hiểm đó, Scarlett O’Hara quyết định đem đứa con trai nhỏ Wade, Melanie cùng em bé mới sinh, và cô nhỏ gia nhân da đen Prissy di tản ra khỏi Atlanta để trở về nơi cô đã được sinh ra và lớn lên: Đồn điền Tara gần Jonesboro, Georgia, 20 dặm (~ 32 km) về phía nam.

Tự biết không thể một mình đưa cả gia đình về lại Tara giữa lúc hỗn mang, loạn lạc, Scarlett sai Prissy chạy đi cầu cứu Rhett Butler — người đã yêu Scarlett ngay từ lần đầu gặp nhau khi cô còn độc thân. Dù ngựa và mọi thứ chuyên chở đều bị quân đội trưng dụng, Rhett vẫn bạo tay đánh cắp được cỗ xe ọp ẹp và con ngựa già èo uột kéo xe. Là một tay súng ngang tàng, người đàn ông từng trải này hộ vệ Scarlett và người thân của cô trên cỗ xe di tản ra khỏi Atlanta đang bốc cháy.

Rhett Butler (Clark Gable) và Scarlett O’Hara (Vivien Leigh) đang di tản khỏi Atlanta, trong phim Gone with the WInd – https://www.npr.org/2014/09/14/347987062/from-casting-to-cutting-the-n-word-the-making-of-gone-with-the-wind

Khi cỗ xe thoát khỏi thành phố trong đêm, để lại phía sau cảnh cướp phá, và Scarlett vẫn chưa kịp hoàn hồn, thì Rhett đột ngột dừng xe. Ông báo cho Scarlett biết rằng cô sẽ phải tự mình tiếp tục chặng đường về Tara. Bởi vì, như bị giằng xé dữ dội trước cảnh thương tâm của những người lính thiếu niên còn quá trẻ đã sớm bị nghiền nát trong cuộc chiến vô vọng, Rhett quyết định quay trở lại Atlanta tình nguyện gia nhập quân đội miền Nam để chiến đấu, dù biết rõ rằng miền Nam đang trong giờ phút hấp hối 5.

Bị bỏ lại bơ vơ giữa cảnh nước mất nhà tan, với quân Yankees đóng chặn lối về, đứng cạnh cỗ xe, nhìn Rhett dần khuất dạng trong bóng đêm dày đặc, Scarlett chỉ còn biết áp đầu vào bờm ngựa khóc nức nở. Kể từ khoảnh khắc đó, Scarlett biết rằng cô sẽ không thể trông cậy vào ai khác, ngoại trừ chính mình.

Trong khi Melanie hoàn toàn kiệt sức sau cuộc sinh nở hiểm nghèo, Prissy vẫn thất thần run rẩy, và hai đứa bé cuộn mình trong chăn, Scarlett chỉ còn một mình độc thoại suốt cuộc hành trình trong đêm dài đầy kinh sợ, trước khi buộc phải tìm một chỗ kín đáo để ẩn náu qua đêm.

Tìm đâu cảnh cũ, người xưa…

Rạng sáng, người goá phụ trẻ đẹp Scarlett O’Hara cuối cùng cũng nhìn thấy tổ ấm năm xưa – nơi cô chắc mẩm sẽ là chốn nương tựa cuối cùng cho gia đình đang nổi trôi, lưu lạc.

Buổi sáng tinh mơ mờ hơi sương đem lại cho Scarlett khung trời quen thuộc của đồn điền Tara. Không còn tiếng súng, lửa cháy, hay tiếng khóc than của nạn nhân chiến tranh. Mà chỉ là sự im vắng đến rợn người ― sự câm lặng tuyệt đối của một không gian chỉ còn thoi thóp thở.

Vội vã chạy vào nhà, Scarlett mới sững sờ nhận ra chiến tranh và cướp bóc đã tàn phá Tara. Dịch bệnh cũng hủy diệt không buông tha bất cứ ai. Đồn điền đã kiệt quệ sau khi quân Yankees đi qua. Tệ hại hơn nữa, linh hồn cột trụ của gia đình ― bà Ellen, mẹ cô ― đã qua đời vì bệnh dịch.

Chiếc phao cuối cùng mà Scarlett định bám víu ― đồn điền Tara êm ấm, và người mẹ hiền Ellen ― đã không còn. Khủng khiếp hơn nữa cho Scarlett, những con người đang dật dờ, lay lắt như những xác thân vừa được vực dậy tại Tara như bừng tỉnh khi gặp lại cô, tựa như họ gặp được cứu tinh đến vừa kịp lúc.

Rã rời kiệt lực, Scarlett nhanh chóng nhận chân được một đe doạ còn ghê gớm hơn cả chiến tranh và chết chóc: CÁI ĐÓI.

Tại đồn điền Tara, con người héo hon, thực phẩm cạn kiệt. Ông bố Gerald quẩn trí sau khi bà mẹ Ellen qua đời và trở nên ngây dại như đứa trẻ. Hai cô em gái, Suellen và Carreen đều đang bị bệnh thương hàn. Tất cả gia nhân trong nhà đều ngơ ngác, lạc thần vì đói lả.

Chênh vênh giữa vực thẳm tuyệt vọng, Scarlett buộc phải đối mặt với sự thực phũ phàng: cuộc sống nhung lụa mà cô quen thuộc đã hoàn toàn bị chiến tranh hủy hoại. Mọi hy vọng ngây thơ của một tiểu thư đài các luôn được nuôi dạy thành “quý tộc” đều đã bị vỡ vụn.

Chưa bao giờ trong đời, Scarlett O’Hara lại phải lo nghĩ đến miếng ăn, và CÁI ĐÓI tưởng chừng như chẳng bao giờ có thể đến gần được cô.

Cũng chưa bao giờ, cô phải lo toan cho bất kỳ ai khác ngoài bản thân và gia đình nhỏ. Thế nhưng nay, Scarlett O’Hara phải nhận lãnh trách nhiệm gánh vác, chống chọi với CÁI ĐÓI — không chỉ riêng cho bản thân mà còn cho cả đồn điền Tara.

Tận mắt chứng kiến ​​thiên đường sụp đổ, bị dồn vào đường cùng, phải đem hết bản năng ra vật lộn cho sự sống còn — trước những mất mát và tàn phá khủng khiếp, cuối cùng Scarlett O’Hara đã tìm thấy sức mạnh tiềm ẩn bên trong mình — một sức mạnh mà trước đó chưa bao giờ cô có thể mường tượng ra được.

Sống Còn để Còn Sống

Trở lại Tara, Scarlett “thức tỉnh” trong một thân xác đau nhức rã rời sau đêm di tản. Nhìn cảnh Tara không còn sức sống, niềm hy vọng tìm được nơi bình yên che chở đã hoàn toàn tan vỡ. Scarlett hụt hẫng, khi chỉ còn thấy nơi chính mình một tâm hồn hoang mang, kiệt quệ. Thế nhưng, dù tâm tư trĩu nặng, cô đã có đủ can đảm để nhìn thẳng vào hiện thực đen tối: Vẫn còn sống, nhưng bằng mọi giá, phải sống còn.

Chính trong khoảnh khắc đó, tâm tư của Scarlett trở nên mẫn tuệ hơn bao giờ hết, xác định rõ hướng đi của cuộc đời: Không lối quay về, chỉ còn đường tiến lên trước mặt. (There was no going back and she was going forward.)

Scarlett bàng hoàng nhận ra không chỉ đồn điền trù phú ngày nào giờ đã trở nên xác xơ, nghèo đói, mà cả thế giới mộng mơ xưa cũ của cô cũng không còn dấu vết. Thậm chí, cô buộc phải tính chuyện đi xin thực phẩm từ láng giềng. Chiến tranh đã xóa nhòa mọi ranh giới phân biệt giữa giàu và nghèo.

Đầu óc trở nên sắc lạnh, Scarlett biết rằng những thử thách kinh hoàng nhất chỉ vừa mới bắt đầu. Cô hiểu rằng để tồn tại, mọi người tại Tara, từ nô lệ đến chủ nhân, đều phải làm việc cật lực. Quyết tâm này không những tạo ra sự chống đối quyết liệt từ người em gái, mà còn làm tổn thương lòng tự tôn của những nô lệ trong nhà — những người vốn tự hào về địa vị cao hơn nô lệ đồng áng.

Đối diện với nạn đói và sự tàn phá vùng quê xung quanh, con tim của Scarlett trở nên chai cứng. Cô tự thề với lòng sẽ không bao giờ phải chịu đói nữa, và quyết tâm sẽ cứu lấy Tara.

Đơn độc gánh vác vai trò “chỉ huy” đồn điền Tara, Scarlett phải dẫn dắt một “đạo binh” sức cùng, lực kiệt vì tất cả đều ĐÓI và bệnh tật. Scarlett hiểu mình phải làm gương. Nghĩa là cô thường trực làm việc nặng nhọc ngoài đồng, đào bới những gốc rễ còn sót lại từ những cánh đồng bị tàn phá, lượm mót từng chút thực phẩm để giữ cho gia đình sống sót qua cơn đói khát.

Từng là một tiểu thư đẹp xinh, thanh lịch, được nuông chiều hết mực và luôn là tâm điểm của mọi ánh mắt trong các buổi dạ vũ; nhưng nay, trước giờ phút sinh tử, Scarlett đã chuyển mình thành một người đàn bà cương quyết phải sống.

Người thiếu nữ kiêu kỳ, yểu điệu hôm qua, chỉ qua một đêm binh lửa đã trở nên gần như vô cảm, sẵn sàng tranh sống bằng quyết tâm sắt đá; bởi sâu thẳm trong tâm khảm, Scarlett đã trỗi dậy mạnh mẽ một bản năng sinh tồn: Cô phải Sống Còn để Tara được Còn Sống.

Số Không và Vô Tận 6

To survive you often have to fight, and to fight you have to dirty yourself.
George Orwell,  Looking Back on The Spanish War.

Chiến tranh và bom đạn chắc chắn đã úp chụp lên Scarlett O’Hara những nỗi kinh hoàng tột độ. Nhưng cô vẫn có thể tìm được một nơi trú ẩn để có được cảm giác an toàn, dù thực ra đó chỉ là một cơ chế tự vệ để tự lừa dối bản thân bằng một ảo giác mong manh. Cô cũng có toàn quyền quyết định trốn chạy khỏi vùng lửa đạn — như tìm cách rời Atlanta để về lại Tara — nghĩa là Scarlett vẫn có phần nào “chủ động” trong việc tìm đường sống. Thậm chí, cô có thể chớp nhoáng đối mặt với cái chết bất ngờ do tên bay, đạn lạc ngay giữa vùng lửa đạn.

Những hiểm nguy đó thật đáng sợ, nhưng chưa hãi hùng bằng cái ĐÓI ― một kẻ sát nhân vô hình, luôn lạnh lùng hiện hữu để bào mòn, cào cấu, xé nát và triệt tiêu mọi nghị lực và sức đề kháng. Cái ĐÓI từ tốn, nhẩn nha rỉa rói, đục khoét cô trong từng giây phút ban ngày, rồi trong đêm vật vã, quằn quại với những cơn ác mộng liên tục tra tấn, giày vò cả thể xác lẫn niềm hy vọng.

Chương 25:

Cơn đói lại gặm nhấm dạ dày trống rỗng và cô thốt lên: “Xin Chúa chứng giám! Xin Chúa chứng giám! Bọn Yankees sẽ không thể đánh bại được ta. Ta sẽ sống sót qua kiếp nạn này, và khi mọi chuyện qua đi, ta sẽ không bao giờ phải chịu đói thêm một lần nữa. Không, người thân của ta cũng không. Nếu phải trộm cắp hay giết người—xin Chúa chứng giám, ta sẽ không bao giờ để mình phải đói thêm lần nào nữa.” 

Chapter XXV:

Hunger gnawed at her empty stomach again and she said aloud: “As God is my witness, as God is my witness, the Yankees aren’t going to lick me. I’m going to live through this, and when it’s over, I’m never going to be hungry again. No, nor any of my folks. If I have to steal or kill—as God is my witness, I’m never going to be hungry again.

Cái ĐÓI tước đoạt tất cả những gì Scarlett từng có, biến con người cô thành con số không (le zéro) vô nghĩa. Bắt đầu từ con số không, cái ĐÓI tiếp tục kéo lê Scarlett và cuốn cô vào một hành trình triền miên đày đoạ: một hành trình vô tận (l’Infini) của sự chết dần, chết mòn trong tận cùng đau khổ.

Đau khổ hơn nữa cho Scarlett O’Hara là việc cô phải “trực nghiệm” sự bất nhân của cái ĐÓI. Chính nó đã buộc cô phản bội lại những giá trị cao quý của sự hy sinh và lòng từ ái đối với gia đình, gia nhân và người đời của Ellen—bà mẹ gương mẫu mà cô luôn lấy đó làm thước đo mẫu mực cho đời sống của mình.

Cái ĐÓI đã quá ư tàn nhẫn — đến độ chỉ để cho Scarlett thoáng nhận ra sự tha hóa của chính mình; nhưng không để Scarlett kịp ăn năn, sửa đổi, cái ĐÓI lại tiếp tục dìm cô lún sâu thêm vào vũng lầy không lối thoát trên bước đường tìm đất sống.

Đó là một hành trình vô tận. Khi bản thân kiệt quệ và đói lả, Scarlett — cũng chỉ như một con số không bầm giập — bị nhấn chìm trong nỗi kinh hoàng và mệt mỏi, lê bước trong vô vọng.

Thế nhưng, hãi hùng hơn cả, trong nỗi cô đơn đối mặt với cái ĐÓI không người chia sẻ, Scarlett vẫn phải một mình chống chọi, cưu mang một đoàn người và con trẻ đang thất thần, ngơ ngác bám chặt vào cô. Họ xem cô như chiếc bè phao duy nhất còn sót lại, sau khi cơn hồng thủy đã cuốn trôi tất cả.

IV. Không Lối Về

Trước muôn vàn thử thách và hoàn toàn bị vây hãm trong đói kém, cuộc sống tại Tara trở nên vô cùng cơ cực. Scarlett phải chật vật xoay xở từng bữa ăn cho mọi người để giữ vững trang trại. Khi cô ép buộc các em gái phụ giúp, thì chỉ nhận lại sự yếu đuối và lời than vãn. Các gia nhân cũng ngấm ngầm bất cộng tác hoặc phản kháng ra mặt. Căng thẳng và cô độc, Scarlett trút cơn thịnh nộ lên bất cứ ai làm trái ý. Ngay cả Wade, cậu con trai hơn hai tuổi, cũng luôn tìm cách né tránh người mẹ hay gắt gỏng.

Mỏi mòn trong nghịch lý

Nhìn sâu vào Scarlett, cách hành xử hung tợn bên ngoài của cô, thực ra, chỉ là phản ánh của một tâm tư vô cùng bất ổn: Cực kỳ lo lắng cho tương lai vô định, khiếp sợ trước những khôn lường, và hoàn toàn mất phương hướng như bao người khác.

Nhưng, bản năng sinh tồn mãnh liệt của Scarlett đã đẩy mạnh cô bật xa ra khỏi đám đông. Trong khi người khác buông xuôi, đắm chìm trong ảo tưởng rằng thời hoàng kim cũ sẽ tự nhiên sống lại sau một cơn ác mộng dài, thì Scarlett biết rằng không thể chấp nhận nguyên trạng. Hy vọng suông không thể là phương cách giải quyết cái đói. Cô tự nhủ sẽ không làm nô lệ cho hoàn cảnh, sẽ tự mở đường tiến đến tương lai và tìm lại sự huy hoàng của thời xưa cũ. Và trên hết, cô sẽ không bao giờ để mình phải chịu đói nữa.

Chung quanh Scarlett, ngoại trừ Melanie, dường như không ai hiểu rằng mọi thứ cần phải thay đổi gần như hoàn toàn, nhất là nhận thức.

Có thể nói, hơn ai hết, Melanie là người thấu hiểu và nhìn thấy được mặt tích cực ẩn giấu đằng sau vỏ bọc ‘hung dữ’ của Scarlett O’Hara. Không chỉ vậy, dù thể chất yếu đuối và đôi khi trở thành gánh nặng, Melanie sẵn sàng hy sinh tất cả để đền đáp tấm chân tình cao đẹp mà Scarlett đã dành cho hai mẹ con cô. Đáng chú ý, động cơ ban đầu thúc đẩy Scarlett bảo vệ Melanie không chỉ vì tình nghĩa chị dâu-em chồng, mà còn để giữ lời hứa với Ashley Wilkes – chồng của Melanie. Đây cũng là người mà Scarlett thầm yêu – một bí mật mà cô em chồng, Melanie, với tâm hồn thánh thiện hoàn toàn không hề hay biết.

Mặt khác, người thực sự hiểu Scarlett trọn vẹn lại là kẻ đem lại cho cô nhiều khó chịu nhất kể từ khi chiến tranh Nam-Bắc chưa bùng nổ: Rhett Butler. Là một kẻ hoang đàng, trác táng nhưng từng trải, Rhett yêu Scarlett ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên, dù ông từng chứng kiến cảnh cô say đắm tỏ tình và van nài Ashley chọn mình thay vì Melanie. Nhưng Ashley khéo léo cự tuyệt.

Dù rất ghét sự sắc bén của Rhett – người luôn nhìn thấu mọi mưu mô, toan tính của cô từ thuở còn yên bình cho đến khi cực kỳ đói khổ, Scarlett vẫn luôn tìm đến ông như một tri kỷ. Chính Rhett mới là chỗ dựa vững chắc nhất cho cô — để tâm sự, để tìm sự dìu dắt — trong những tháng ngày cùng cực nhất.

Mơ vời trong ảo tưởng

Thế nhưng, ngay cả sau khi Scarlett quyết định kết hôn với Rhett vì sự hào nhoáng cùng những toan tính cá nhân, và đã sinh hạ con gái Bonnie Blue với ông, cô vẫn luôn mơ tưởng về mối tình thơ mộng với Ashley. Rhett hoàn toàn đọc được tâm can của Scarlett, nhưng ông chấp nhận nhắm mắt làm ngơ. Rhett hy vọng rằng thời gian chung sống cùng tấm chân tình của mình sẽ cảm hóa được Scarlett.

Đáng tiếc, niềm hy vọng của một người đàn ông ngang tàng, từng trải nhưng yếu lòng vì tình yêu như Rhett, đã không thể cảm hoá được trái tim của một người phụ nữ thực tế đến lạnh lùng, nhưng lại quá mộng mơ và mù quáng trong tình yêu dành cho Ashley như Scarlett.

Lại thêm một nghịch lý: tâm hồn tưởng chừng như đã chai sạn của Scarlett dường như lại tìm được chốn bình yên trong ảo ảnh tình yêu ký thác nơi “bóng ma” Ashley. Thực ra, bản thân Ashley là người bài bác chiến tranh và yêu chuộng hòa bình, nhưng ý thức về bổn phận và danh dự đã buộc anh phải cầm súng. Sự dũng cảm của anh ngoài chiến trường cuối cùng đã được Quân đội Liên minh (Confederate) trao tặng huân chương và phong cấp bậc Thiếu tá.

Và chính Ashley — biểu tượng của một miền Nam xưa cũ, trí thức, thanh lịch trong yên bình và can trường, dũng mãnh nơi chiến trận — giờ đây cũng hoàn toàn sụp đổ và suy tàn; hệt như nền văn hóa của miền Nam đã bị hủy diệt, vĩnh viễn không thể phục hồi sau cuộc Nội chiến.

Trong thế giới hỗn mang của thời hậu chiến, “cứ điểm” tinh thần cuối cùng mà Ashley có thể lui về nương náu chỉ còn là Melanie. Thế nhưng, cứ điểm sau cùng này cũng vỡ vụn khi Melanie vĩnh viễn ra đi. Sự mất mát này đột nhiên trở thành một luồng sáng chói loà, thiêu rụi những ảo ảnh, những huyền thoại về Ashley vốn đã từ lâu bám rễ trong tâm tưởng của Scarlett O’Hara.

Bởi lẽ, thực chất tình yêu Scarlett dành cho Ashley Wilkes không hề đặt vào con người thực của anh, mà chỉ là sự kết tinh của vẻ thanh lịch và nét lãng mạn thuộc về một miền Nam xưa cũ. Đó là những giá trị do chính cô đã tự lý tưởng hóa và gán ghép cho Ashley, để rồi từ đó hoàn toàn chối bỏ thực tại.

Ngay tại phút giây đó, Scarlett bàng hoàng nhận ra bấy lâu nay cô chỉ yêu say đắm một mẫu hình lý tưởng do chính mình tự thêu dệt. Cô cũng đớn đau nhận ra rằng, nếu không quá mù quáng, cô đã có thể nhận ra Rhett Butler mới chính là người duy nhất thấu cảm được giá trị và yêu thương cô hơn bất cứ ai khác.

Ngàn trùng cô đơn, một đời bão nổi

Scarlett vội vã đi tìm Rhett, khao khát và nôn nóng được chia sẻ tình yêu vừa thức tỉnh sau bao năm dài quay cuồng đuổi theo ảo ảnh “thả hình bắt bóng.” Nhưng trớ trêu thay, ngay phút giây Scarlett nhận chân được hạnh phúc, thì cũng chính là lúc định mệnh đã tàn nhẫn giật lấy đi hạnh phúc ra khỏi tầm tay của cô. Định mệnh — như gã cai tù độc ác, quỷ quyệt — luôn tìm đủ cách để giam cầm Scarlett O’Hara trong nhà tù số phận, tước bỏ mọi cơ hội để cô vượt thoát.

Chuỗi bi kịch liên tiếp ập đến trước đó đã đẩy Rhett đến tận cùng của bế tắc. Cô con gái nhỏ Bonnie Blue, mà ông nâng niu như một thiên thần, đã qua đời trong một tai nạn cưỡi ngựa khi mới 4 tuổi. Sự mất mát quá lớn lao này khiến Rhett suy sụp đến mức như điên loạn; ông ôm chặt thi thể con gái không rời và chỉ chịu để mọi người đưa đi an táng sau khi Melanie đến khuyên giải. Không lâu sau đó, sự ra đi vĩnh viễn của Melanie – người phụ nữ mà ông vô cùng kính trọng – càng làm cho bầu không khí thêm thê lương. Mỏi mòn vì chờ đợi một tình yêu không được đáp lại từ Scarlett, ông chẳng còn gì để tha thiết. Nỗi đau khổ khôn cùng đó đã đẩy Rhett Butler đến điểm giới hạn không thể quay về. Như một người hoàn toàn được giải thoát khỏi những hệ lụy của nhân sinh, Butler thản nhiên rũ áo ra đi. Buông bỏ tất cả. Kể cả lời tỏ tình chân thật muộn màng của Scarlett O’Hara.

Chỉ còn lại một mình, Scarlett O’Hara cũng tựa như một miền Nam trơ trọi đang lùi dần vào lịch sử. Bất chấp nghị lực phi thường và khả năng sinh tồn mãnh liệt, số phận sau cùng của cô lại được định đoạt trong nỗi cô đơn tuyệt đối. Một Scarlett O’Hara quyết tâm vượt thắng:

Không lối quay về, chỉ còn đường tiến lên trước mặt.

Khắp miền Nam, suốt năm mươi năm sau vẫn có những người đàn bà với ánh mắt cay đắng ngoái nhìn về những tháng ngày đã chết, về những người đàn ông đã chết, gợi lại những ký ức đau thương và vô vọng, cam chịu cảnh nghèo khó với niềm kiêu hãnh đắng cay vì họ vẫn lưu giữ những ký ức đó. Nhưng Scarlett đã quyết không khi nào quay lại ngoái nhìn. – Chương 25.

There was no going back and she was going forward.

Throughout the South for fifty years there would be bitter-eyed women who looked backward, to dead times, to dead men, evoking memories that hurt and were futile, bearing poverty with bitter pride because they had those memories. But Scarlett was never to look back. – Chapter XXV.

Nhưng cũng chính Scarlett O’Hara đó — ở vào khoảnh khắc bất ngờ nhất, vượt xa mọi dự tưởng — buộc phải nhìn lại bản thân. Hệt như cây thông đang đứng giữa trời, cô chỉ còn có thể “đối thoại” với cái bóng chơ vơ của chính mình. Như lời kết cho một đoạn đời, được ghi ở những dòng cuối cùng của tác phẩm:

Ngày mai, mình sẽ nghĩ đến điều đó tại Tara. Lúc đó mình sẽ vững vàng. Ngày mai, mình sẽ nghĩ cách đem anh ấy trở lại. Cuối cùng thì, ngày mai trời lại sáng.

I’ll think of it all tomorrow, at Tara. I can stand it then. Tomorrow, I’ll think of some way to get him back. After all, tomorrow is another day.

Ngày 30 tháng 5, năm 2026
Trần Trung Tín


Chú Thích:

  1. Tựa đề tiếng Latin ‘Non sum qualis eram bonae sub regno Cinarae’ được trích từ Quyển 4, 1 của tuyển tập thơ Odes của Horace – Horace’s Odes (Book 4, 1), viết vào khoảng năm 23–13 trước Tây lịch.

    Dùng đến câu Latin này nhà thơ Dowson có ý muốn nói là nhân vật xưng “Tôi” thừa nhận rằng ông ta đã thay đổi, không còn là con người trước đây khi đang yêu Cynara sâu đậm.

    Tuy vậy những ký ức về Cynara khiến ông ta “trung thành” với cô ấy theo một cách thế riêng, đã làm mờ nhạt mọi mối quan hệ lãng mạn hay dục tình khác, https://www.litcharts.com/poetry/ernest-dowson/non-sum-qualis-eram-bonae-sub-regno-cynarae.

  2. Nhiều ngôi sao điện ảnh Hollywood đã ra sức vận động để giành thủ vai Scarlett O’Hara. Trong số đó có Bette DavisKatharine Hepburn,1907-2003, Katharine Hepburn nhận được 4 giải thưởng Oscars cho Nữ Diễn Viên Giỏi Nhất (4 Academy Awards for Best Actress) – đến nay đó vẫn còn là một kỷ lục của giải Oscar cho tất cả các nam/nữ diễn viên điện ảnh.

    Theo Charles Higham trong quyển *Kate: The Life of Katharine Hepburn*, Katharine Hepburn đặc biệt quyết liệt; bà nói với Selznick rằng:

    “Tôi là Scarlett O’Hara! Vai này thực sự được viết ra là để cho tôi,” theo Charles Higham trong cuốn sách *Kate: The Life of Katharine Hepburn*. Được thuật lại, Selznick đã trả lời: “Tôi không thể nào hình dung được cảnh Rhett Butler theo đuổi cô suốt 12 năm trời.”

    “I am Scarlett O’Hara! The role is practically written for me,” according to Charles Higham in “Kate: The Life of Katharine Hepburn. Selznick reportedly replied “I can’t imagine Rhett Butler chasing you for 12 years.”

    Nguồn: https://goldenglobes.com/articles/forgotten-hollywood-vivien-leigh-and-gone-wind-1939/

  3. Xin xem:
        • Cắt Tranh
        • Người Tù Nhân Chứng Năm Xưa
  4. Theo Britanica, ‘carpetbagger’ là một từ ngữ hàm ý miệt thị, dùng để chỉ những thành phần từ Bắc di dời xuống Nam trong thời kỳ Tái thiết (1865–77), sau cuộc Nội chiến Mỹ. Từ ngữ này được dân miền Nam dùng để cáo buộc những kẻ từ miền Bắc lợi dụng chiến thắng vào Nam để trục lợi.

    Theo nghĩa đen, từ ngữ này mô tả kẻ ngoại nhập không được hoan nghênh, và tài sản họ sở hữu chỉ là những thứ nhét vừa đủ vào một chiếc túi xách rẻ tiền làm từ vải thảm (carpetbag).

    Wikipedia tiếng Việt (tham khảo vào 5/2026) dịch carpetbaggerkẻ gói thảm hoặc kẻ mang túi. Đọc những chữ được dịch như trên, xét theo mặt lịch sử và ngữ nghĩa (semantics), tôi không thể hiểu được đúng ý nghĩa của chữ carpetbaggers. Dịch chữ carpetbagger như thế đã hoàn toàn làm mất đi hàm ý miệt thị, khinh khi gắn liền với chữ này, như được dùng trong thời hậu Nội chiến Mỹ.

    Để được gần với ý nghĩa của chữ carpetbagger vào thời sau Nội chiến Mỹ và vẫn giữ được hàm ý khinh miệt, phần dịch sang Việt ngữ chữ ‘carpetbagger’ sẽ là ‘kẻ khố rách áo ôm.’

  5. Mời đọc thêm: Butler Nhập Cuộc.
  6. Số Không và Vô Tận lấy từ tên quyển sách dịch của Thạch Trung Giả. Mời xem Le Zéro et L’Infini.

1 Comment

  1. Phạm Tín An Ninh

    Một bài viết giá trị, gợi lại một đề tài mang tính văn học và lịch sử từng”vang bóng một thời”. Mặc dù khởi đi từ một tác phẩm rất phổ biến, dựa theo cuộc nội chiến nổi tiếng trong lịch sử nước Mỹ, đươc dựng thành phim, được bao nhiêu ngòi bút trên khắp thế giới để cập tới từ suốt nhiều thập kỷ, nhưng với sự phân tích, nhận định cùng một số chi tiết khá mới mẽ, sống động, tác giả đã tạo nhiều lý thú, hấp dẫn người đọc.
    Đặc biệt, tác giả đã có so sánh một phần về hệ lụy giữa cuộc nội chiến Nam- Bắc Mỹ này với cuộc chiến Nam – Bắc Việt Nam (kết thúc vào tháng 4 năm 1975), cách hành xử khác biệt của bên thắng trận sau khi hai cuộc chiến kết thúc, đã cho chúng ta, những người Việt, của cả hai miền Nam-Bắc, có dịp để tự nhìn lại chính mình. Cho dù hai cuộc chiến ấy đã kết thúc cách nhau hơn cả hơn một thế kỷ, 110 năm (1865-1975).
    Xin chân thành cám ơn tác giả.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *